Điều 12. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất ở
1. Người sử dụng đất ở sau khi bị thu hồi vẫn còn diện tích đất ở, khi xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất còn lại này phải tuân thủ theo quy hoạch xây dựng được duyệt của từng dự án và từng khu vực đô thị, nông thôn hoặc theo Điều lệ quản lý xây dựng. Trường hợp người sử dụng đất có yêu cầu Nhà nước thu hồi phần diện tích đất ở còn lại thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Quy định này.
2. Trường hợp trên diện tích đất ở, đất xây dựng ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà (gọi chung là giấy tờ về quyền sử dụng đất) nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành, trên đất có nhà ở sử dụng ổn định từ trước khi được cấp giấy tờ về quyền sử dụng đất, thì thực hiện như sau:
a) Nếu diện tích thu hồi của thửa đất qua đo đạc thực tế bằng hoặc nhỏ hơn diện tích đất ở, diện tích đất xây dựng ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế;
b) Nếu diện tích thu hồi của thửa đất qua đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích đất ở, đất xây dựng ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, mà phần diện tích nhiều hơn chưa được cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp, thì phần diện tích đất chênh lệch đó được tính toán bồi thường 100% hoặc 50% giá đất ở (tùy theo nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất được địa phương xác nhận đối với phần diện tích đất chênh lệch) nhưng tổng diện tích được bồi thường (bao gồm cả diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất) tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành;
c) Nếu diện tích thu hồi của thửa đất qua đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích đất ở hoặc diện tích đất xây dựng ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, mà phần diện tích nhiều hơn đã được cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp, thì phần diện tích nhiều hơn bồi thường theo giá đất nông nghiệp.
3. Đối với các trường hợp sử dụng đất nông nghiệp làm đất ở tại các khu vực đã hình thành thôn, xóm, khu phố và phù hợp với quy hoạch (trước thời điểm Nhà nước thu hồi đất), thực hiện như sau:
a) Trường hợp sử dụng ổn định và làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 (không phân biệt đã được cấp giấy hay chưa được cấp giấy chứng nhận), nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: bồi thường 100% giá đất ở đối với diện tích đất ở đang sử dụng (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành; đối với diện tích đất ở đang sử dụng vượt hạn mức giao đất ở (nếu có):
- Nếu hộ gia đình, cá nhân chưa lần nào được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở vượt hạn mức có nguồn gốc và thời điểm sử dụng làm đất ở nêu trên: bồi thường 50% giá đất ở;
- Nếu hộ gia đình, cá nhân đã được một lần giải quyết cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đất ở vượt hạn mức có nguồn gốc và thời điểm sử dụng làm đất ở nêu trên: bồi thường theo giá đất nông nghiệp.
b) Trường hợp sử dụng ổn định và làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và nhà ở được xác định là xây dựng trước khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (không thuộc trường hợp tự chuyển mục đích sang đất ở và làm nhà ở khi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp), nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: bồi thường bằng 50% giá đất ở đối với diện tích đất ở đang sử dụng (theo quy định của Luật Đất đai) thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành;
c) Đối với trường hợp đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng có nguồn gốc là đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng tự chuyển mục đích sang đất ở và làm nhà ở từ ngày 15/10/1993 đến nay, được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp: Bồi thường theo quy định đối với đất nông nghiệp.
4. Trường hợp diện tích đất thu hồi có Quyết định cấp đất làm nhà ở và làm vườn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng trong Quyết định không ghi rõ diện tích đất ở, đất nông nghiệp, thì xử lý như sau:
a) Nếu toàn bộ diện tích có Quyết định cấp đất bị thu hồi, hoặc thu hồi một phần mà phần diện tích còn lại của Quyết định cấp đất không đủ theo hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành, thì diện tích bị thu hồi được bồi thường theo giá đất ở nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định, phần diện tích vượt hạn mức đất ở (nếu có) được bồi thường theo quy định đối với đất vườn ao.
b) Nếu chỉ thu hồi một phần diện tích mà phần diện tích đất còn lại theo Quyết định cấp đất vẫn đủ theo hạn mức giao đất ở theo quy định, thì phần diện tích bị thu hồi chỉ được bồi thường theo quy định đối với đất vườn ao. Đối với trường hợp này, sau khi thực hiện di dời, giải toả, thì phần diện tích đất còn lại theo Quyết định cấp đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tối đa bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành mà không phải nộp tiền sử dụng đất (Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng lập các thủ tục cần thiết để bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho người sử dụng đất).
5. Diện tích đất thu hồi của hộ gia đình, cá nhân có nguồn gốc là do Tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, tự chuyển mục đích sử dụng đất sang làm đất ở và đã phân phối đất ở đó cho cán bộ, công nhân viên của tổ chức trong thời gian từ ngày 15/10/1993 đến ngày 24/12/2004 (ngày Nghị định số 7863/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có hiệu lực thi hành), nếu hộ gia đình, cá nhân chưa lần nào được giải quyết cấp quyền sử dụng đất ở đối với diện tích đất có nguồn gốc này, thì bồi thường bằng 50% đơn giá đất ở đối với diện tích thực tế bị thu hồi, nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành; phần diện tích vượt hạn mức đất ở (nếu có) được bồi thường theo quy định đối với đất nông nghiệp.
Trường hợp đã được một lần giải quyết cấp quyền sử dụng đất ở đối với diện tích đất có nguồn gốc nêu trên, thì toàn bộ diện tích đất thu hồi chỉ được bồi thường theo quy định đối với đất nông nghiệp.