vanban.org

Điều 40. Xử lý lỗi kỹ thuật trong TTLNH — Quyết định 309/2002/QĐ-NHNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 16/08/2006 Thay thế: 23/2010/TT-NHNN · 09/11/2010 Sửa đổi, bổ sung: 33/2006/QĐ-NHNN · 28/07/2006
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 09/04/2002 Hiệu lực 24/04/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 309/2002/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế thanh toán điện tử liên ngân hàng · 309/2002/QĐ-NHNN
16/08/200633/2006/QĐ-NHNNSửa đổi Đang xem 24/04/2002Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 309/2002/QĐ-NHNN › Chương VI › Điều 40
Đọc toàn văn

Điều 40. Xử lý lỗi kỹ thuật trong TTLNH

1. Lỗi thông thường.

a) Trong các trường hợp phát sinh lỗi về phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, đường truyền thông, giao dịch không thực hiện được do lỗi thiết bị đầu cuối, thực hiện thông báo tình trạng lỗi như sau:

- Lỗi xảy ra tại các thành viên và đơn vị thành viên: thông báo Trung tâm xử lý Tỉnh và Trung tâm thanh toán Quốc gia.

- Lỗi xảy ra tại Trung tâm xử lý Tỉnh: thông báo Trung tâm thanh toán Quốc gia, các thành viên và đơn vị thành viên có liên quan.

- Lỗi xảy ra tại Trung tâm thanh toán Quốc gia: thông báo các Trung tâm xử lý Tỉnh hoặc toàn hệ thống;

b) Phương thức truyền thông báo: sử qua mạng máy tính, qua Fax hoặc điện thoại.

c) Các thành viên, đơn vị thành viên, Trung tâm xử lý Tỉnh phải có trách nhiệm báo cáo và khẩn trương xử lý các lỗi xảy ra trong phạm vi quản lý của mình; đồng thời phối hợp xử lý các lỗi phát sinh khác của hệ thống khi được yêu cầu.

2. Lỗi bất khả kháng.

Lỗi bất khả kháng là lỗi phát sinh bởi các sự kiện nằm ngoài phạm vi kiểm soát của người quản lý, điều hành hệ thống và không thể dự kiến trước được. Xử lý như sau:

a) Báo cáo Ban điều hành hệ thống tình trạng lỗi bất khả kháng;

b) Ban điều hành xem xét quyết định giải pháp xử lý. Trường hợp phải chuyển sử dụng hệ thống dự phòng, Ban điều hành quyết định thời điểm chuyển sang hệ thống dự phòng và thực hiện thông báo:

- Chuyển sang Trung tâm thanh toán Quốc gia dự phòng: thông báo cho các Trung tâm xử lý Tỉnh; các thành viên và đơn vị thành viên.

- Chuyển Trung tâm xử lý Tỉnh dự phòng: thông báo cho Trung tâm xử lý Tỉnh khác và các đơn vị thuộc phạm vi Trung tâm xử lý Tỉnh được chuyển đổi.

c) Phương tiện truyền thông báo: qua mạng máy tính, qua Fax hoặc điện thoại.

d) Phương pháp, nội dung sao lưu dữ liệu cho hệ thống dự phòng phải tuân thủ theo thủ tục được quy định tại Quy trình vận hành hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng.

3. Xử lý trường hợp do sự cố kỹ thuật hoặc truyền tin, không gửi, nhận được Lệnh thanh toán

a) Đối với lệnh thanh toán đi

- Khi lệnh thanh toán đã chuyển đi nhưng không nhận được xác nhận từ Trung tâm xử lý Tỉnh do các sự cố kỹ thuật, các đơn vị thành viên phải thực hiện như sau:

+ Vấn tin để cập nhật chính xác tình trạng hiện thời của lệnh thanh toán tại Trung tâm xử lý Tỉnh.

+ Đối với những lệnh thanh toán sau khi vấn tin có tình trạng chưa kết thúc, xử lý như sau:

* Gửi lại lệnh thanh toán chưa kết thúc để hoàn tất việc chuyển tiền.

* Sau khi gửi lại, nếu lệnh thanh toán vẫn không thể kết thúc, đơn vị thành viên lập lệnh huỷ (trong hàng đợi) lệnh thanh toán. Căn cứ trên kết quả huỷ thành công của Trung tâm xử lý Tỉnh gửi về, kế toán viên và người kiểm soát ký xác nhận và lưu trữ kết quả này trên giấy. Sau khi đã huỷ thành công và thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, đơn vị thành viên có thể quyết định hoặc lập lại lệnh thanh toán khác với bút toán mới để thay thế lệnh đã huỷ trước đó hoặc trả lại tiền cho khách hàng.

* Trường hợp lệnh thanh toán được gửi lại vẫn không thành công và cũng không thể huỷ được, đơn vị thành viên lập biên bản ghi nhận sự cố trên. Căn cứ trên kết quả đối chiếu lệnh chuyển đi cuối ngày và kết quả phối hợp xử lý giữa đơn vị thành viên và Trung tâm thanh toán Quốc gia, đơn vị thành viên quyết định hoặc giữ nguyên các bút toán đã hạch toán hoặc trả lại tiền hoặc lập lại lệnh thanh toán mới cho khách hàng.

- Do sự cố kỹ thuật, bảng đối chiếu đi cuối ngày có thể không cân, đơn vị thành viên phải vấn tin lên Trung tâm xử lý Tỉnh để cập nhật tình trạng của các lệnh chênh lệch, sau đó lập biên bản xác nhận tình trạng hiện tại. Kết quả cuối cùng của bảng đối chiếu đi được căn cứ trên tình trạng mới nhất của các lệnh thanh toán và kết quả phối hợp xử lý giữa thành viên với Trung tâm thanh toán Quốc gia.

b) Đối với lệnh thanh toán đến.

- Một số sự cố kỹ thuật gây ra không giải mã hoặc không nhận được file lệnh thanh toán đến, trong các trường hợp này thành viên yêu cầu Trung tâm thanh toán Quốc gia thay đổi trạng thái file và tiến hành tiếp tục nhận, giải mã, kiểm tra lại và in lệnh thanh toán đến.

c) Sự cố không thể kết nối với Trung tâm xử lý Tỉnh.

- Trường hợp sự cố về máy tính, modem, điện thoại, v.v... đơn vị thành viên không thể kết nối với Trung tăm xử lý Tỉnh để nhận xác nhận, kết quả đối chiếu và các thông tin khác. Thành viên và đơn vị thành viên phải thông báo cho Ban điều hành thông qua các phương tiện khác (Fax, Điện thoại, v.v...) về sự cố xẩy ra. Đối với những lệnh thanh toán chưa hoàn thành, thành viên chỉ thực hiện thanh toán tiền cho khách hàng khi sự cố trên được khắc phục và có sự xác nhận về tình trạng cuối cùng của lệnh thanh toán từ Trung tâm xử lý Tỉnh.

d) Đối với một sô sự cố kỹ thuật đặc biệt khác.

- Hệ thống có thể gặp một số sự cố kỹ thuật đặc biệt khác, trong từng trường hợp cụ thể Ban điều hành sẽ xem xét và quyết định các biện pháp kỹ thuật xử lý phù hợp.