Điều 7. Nguyên tắc bồi thường đất :
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 8 và 9 của Quy định này thì được bồi thường; trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì được xem xét để hỗ trợ theo quy định.
2. Người bị thu hồi đất đang sử dụng đất vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng đất đó; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị, thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước. Nghĩa vụ tài chính bao gồm tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu hồi (nếu có), tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng đất đai.
4. Trường hợp có các loại giấy tờ theo quy định pháp luật thì bồi thường theo diện tích, loại đất ghi trên giấy. Nếu trên giấy không ghi rõ diện tích đất, loại đất, số tờ, số thửa và thời gian cấp giấy thì phải có xác nhận của phòng Tài nguyên và môi trường về các yếu tố đó.
Trường hợp không có các loại giấy tờ theo quy định hoặc diện tích đo đạc thực tế khác diện tích ghi trên giấy thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nguồn gốc và pháp lý đất đai, của Phòng Tài nguyên và môi trường về diện tích và loại đất sử dụng.