Điều 14. Bồi thường, hỗ trợ đất phi nông nghiệp là đất ở :
1. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
2. Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở theo quy định; trường hợp diện tích đất ở còn lại của người sử dụng đất sau khi Nhà nước thu hồi nhỏ hơn diện tích quy định tại khoản 1 Điều 5 của Quy định này, thì phải sắp xếp lại việc xây dựng công trình phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị (phường, thị trấn) và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (xã) hoặc giao cho Nhà nước phần diện tích đất ở còn lại theo giá tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
3. Diện tích đất ở là diện tích ghi trên các loại giấy tờ quy định tại Điều 8 của quy định này.
4. Trường hợp đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 hoặc từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 không có giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai và đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền (theo quy định tại Mục III của Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT) để được sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo Điều 44, 45 và 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
5. Đối với trường hợp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (lúa, vườn, ao,…) nhưng thực tế hộ gia đình, cá nhân đã tự chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở từ trước ngày có quyết định thu hồi đất hoặc trước ngày công bố quy hoạch, cắm mốc phạm vi hành lang bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật và không vi phạm quy hoạch đối với những nơi đã công bố quy hoạch thì giải quyết như sau:
a. Trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, thì người đang sử dụng đất được bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ về đất để hai (02) khoản này bằng 100% giá bồi thường về đất ở theo diện tích thực tế hiện trạng xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với nhà ở (nhà bếp, sân phơi, chuồng trại, nhà vệ sinh,...) đang sử dụng nhưng không vượt quá một (01) lần hạn mức giao đất ở theo quy định; phần diện tích đất ở vượt hạn mức và phần diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp theo quy định.
b. Trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, thì người đang sử dụng đất được bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ về đất để hai khoản này bằng 50% giá bồi thường về đất ở (nhưng không thấp hơn giá bồi thường đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư) theo diện tích thực tế hiện trạng xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với nhà ở (nhà bếp, sân phơi, chuồng trại, nhà vệ sinh,...) nhưng không vượt quá một (01) lần hạn mức giao đất ở theo quy định; phần diện tích đất ở vượt hạn mức và phần diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở (nếu có) thì được bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp theo quy định.
c. Trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng làm nhà ở từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau, người đang sử dụng đất ở (nếu có) được bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp theo quy định.