vanban.org

Điều 46. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại : — Quyết định 51/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 24/11/2008 Hiệu lực 04/12/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 51/2008/QĐ-UBND
04/12/2008Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 51/2008/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 46
Đọc toàn văn

Điều 46. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại :

1. Việc giải quyết khiếu nại thực hiện theo quy định tại Điều 138 của Luật Đất đai, Điều 63 và 64 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP và quy định giải quyết khiếu nại tại Nghị định số 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.

2. Trong khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất. Trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là trái pháp luật thì phải dừng thực hiện quyết định thu hồi đất; cơ quan Nhà nước đã ban hành quyết định thu hồi đất phải có quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra (nếu có). Trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc thu hồi đất là đúng pháp luật thì người có đất bị thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất.

3. Một số trường hợp cụ thể:

3.1. Đối với các quyết định do Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường:

- Trường hợp các khiếu nại do điều tra nhầm hoặc thiếu, hồ sơ kỹ thuật đất chưa chính xác, tính toán sai số học, giá bồi thường nhà, công trình và các chính sách hỗ trợ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; Tổ chức giải phóng mặt bằng kiểm tra lại và gửi cho Phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định bổ sung theo quy định tại Khoản 2.2 Điều 39 của Quy định này. Nếu người khiếu nại không đồng ý, giải quyết theo trình tự của Luật Khiếu nại, tố cáo. 

- Trường hợp các khiếu nại về quyết định thu hồi đất, giá bồi thường về đất, chính sách tái định cư, Thanh tra cấp huyện phối hợp với tổ chức giải phóng mặt bằng và các ngành có liên quan làm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định giải quyết lần đầu. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh.

- Trường hợp khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là quyết định giải quyết lần hai, phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

3.2. Đối với các quyết định do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án bồi thường:

- Trường hợp các khiếu nại do điều tra nhầm hoặc thiếu, hồ sơ kỹ thuật đất chưa chính xác, tính toán sai số học, giá bồi thường nhà, công trình và các chính sách hỗ trợ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, Tổ chức giải phóng mặt bằng kiểm tra lại và gửi Hội đồng thẩm định tỉnh thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định bổ sung theo quy định tại Khoản 2.1 Điều 39 của Quy định này. Nếu người khiếu nại không đồng ý, giải quyết theo trình tự của Luật Khiếu nại, tố cáo. 

- Trường hợp khiếu nại về giá bồi thường đất và chính sách tái định cư, Tổ chức giải phóng mặt bằng phối hợp các ngành có liên quan cùng cấp và cấp huyện làm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết lần đầu; phải được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết, thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

3.3. Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi Nhà nước thu hồi đất không quá chín mươi (90) ngày đối với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và ba mươi (30) ngày đối với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, kể từ ngày nhận được quyết định về phương án bồi thường. Trong thời hạn không quá bốn mươi lăm (45) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.