vanban.org

Điều 12. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân: — Quyết định 51/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 24/11/2008 Hiệu lực 04/12/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 51/2008/QĐ-UBND
04/12/2008Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 51/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại Khoản 1 Điều 11 của quy định này.

2. Trường hợp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cây hàng năm,  nhưng thực tế hộ gia đình, cá nhân đã tự chuyển mục đích sử dụng đất cây lâu năm trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, thì người đang sử dụng đất ngoài việc được bồi thường đất trồng cây hàng năm còn được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất để cải tạo từ đất hàng năm sang đất cây lâu năm một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa mức giá đất cây hàng năm và đất cây lâu năm.

3. Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành của cùng loại đất, còn được hỗ trợ thêm bằng tiền. Giá tính hỗ trợ từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề được xác định tùy theo từng vị trí theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định về mức giá các loại đất nhưng không cao hơn giá chuyển nhượng thực tế trong điều kiện bình thường; việc xác định diện tích hỗ trợ như sau:

3.1. Diện tích được hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở thuộc phạm vi các khu vực sau:

a. Trong phạm vi địa giới hành chính phường;

b. Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn (xã) đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn (xã) chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư.

c. Đối với thửa đất vượt ra khỏi phạm vi thuộc các khu vực quy định tại điểm a và b khoản này, diện tích hỗ trợ chỉ tính theo quy định tại Điểm a và b của khoản này.

3.2. Đối với diện tích đất vườn, ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc các khu vực quy định tại Khoản 3.1 Điều này thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

3.3. Một số trường hợp khác:

a. Đối với diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao không cùng thửa đất có nhà ở nhưng thửa đất nằm trong phạm vi khu dân cư đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

b. Đối với diện tích đất nông nghiệp, đất vườn, ao không cùng thửa đất có nhà ở nhưng liền thửa và chung chủ sử dụng trong phạm vi địa giới hành chính phường, dọc theo kênh mương, dọc theo tuyến đường giao thông hoặc nhà ở riêng lẻ thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

c. Đối với diện tích đất nông nghiệp không cùng thửa đất có nhà ở nhưng tiếp giáp mặt tiền đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, đường giao thông về trung tâm các xã, thì diện tích đất được tính để hỗ trợ bằng tiền của mỗi thửa không vượt quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.

3.5. Trong những trường hợp đặc biệt, trên cơ sở tổng hợp báo cáo của Tổ chức giải phóng mặt bằng đã thông qua Hội đồng bồi thường dự án, Hội đồng thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết từng trường hợp cụ thể.

4. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:

a. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;

b. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a của khoản này thì không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

5. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 của Quy định này; nếu hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính từ đất nông nghiệp thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét để giao đất mới phù hợp với điều kiện của địa phương.

6. Trường hợp người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn khi bị thu hồi thì không được bồi thường về đất mà chỉ được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại.