Điều 10. Mức bồi thường về đất khi thu hồi :
Mức bồi thường về đất khi thu hồi được xác định bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm bị thu hồi, tính theo giá đất quy định tại Điều 11 của Quy định này nhân (x) với diện tích đất bị thu hồi. Diện tích đất được bồi thường là diện tích được xác định trên thực địa, qua đo đạc thực tế diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất.
- Trường hợp diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên các loại giấy tờ quy định tại Điều 8 của Quy định này, khi bị thu hồi thì phần diện tích chênh lệch do các yếu tố tự nhiên gây ra (như bị sạt lở, xói mòn,...) có xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương và được dự án sử dụng, thì được tính bồi thường theo quy định. Nếu phần diện tích chênh lệch này do sai số đo đạc khi cấp giấy, thì Hội đồng bồi thường của dự án tính bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế và hoàn trả lại số tiền nghĩa vụ tài chính về đất (tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, lệ phí trước bạ) mà các hộ đã nộp cho phần diện tích chênh lệch này (nếu có);
- Trường hợp diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên các loại giấy tờ quy định tại Điều 8 của Quy định này, khi bị thu hồi, nếu người sử dụng đất không chứng minh được nguồn gốc sử dụng và không đủ điều kiện để được bồi thường theo Điều 9 của Quy định này, thì phần diện tích chênh lệch này không được bồi thường. Nếu người sử dụng đất chứng minh được nguồn gốc sử dụng, đủ điều kiện để được bồi thường theo Điều 8 và 9 của Quy định này nhưng do sai số đo đạc khi cấp giấy thì người sử dụng đất được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế và người sử dụng đất phải nộp các khoản nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, lệ phí trước bạ) cho ngân sách nhà nước (nếu thuộc diện phải nộp theo quy định) kể từ khi sử dụng đất này.