vanban.org

Điều 18. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất : — Quyết định 51/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 24/11/2008 Hiệu lực 04/12/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 51/2008/QĐ-UBND
04/12/2008Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 51/2008/QĐ-UBND › Chương III › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18. Bồi thường nhà, công trình xây dựng trên đất :

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân (bao gồm: nhà bếp, sân, giếng nước, nhà vệ sinh, cổng, hàng rào, lối đi, chuồng trại, nơi để thức ăn gia súc gia cầm, nơi để chất đốt,...) thuộc đối tượng bồi thường về đất thì được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Giá trị xây dựng mới của nhà, công trình được tính theo diện tích sàn xây dựng của nhà, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành (có quy định riêng).

Trường hợp nhà, công trình có kết cấu phức tạp không có trong đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành thì thực hiện tương tự các bước thuê đơn vị tư vấn lập hồ sơ dự toán thiết kế, thẩm tra và giám sát khối lượng đã quy định tại Khoản 3 Điều 17 của Quy định này.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này được bồi thường theo mức sau:

Mức bồi thường    = Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt  hại + {(Giá trị bồi thường - Giá trị hiện có) x  60%}

2.1. Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

Ghc  =  Mkl x  Gxd   x Tcl

Trong đó:

+ Ghc         : giá trị hiện có của nhà, công trình;

+ Mkl         : diện tích sàn xây dựng nhà, công trình;

+ Gxd         : đơn giá bồi thường;

+ Tcl           : tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, công trình.

2.2. Xác định tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, công trình:

Căn cứ vào niên hạn sử dụng, thời gian đã sử dụng nhà, công trình; tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, công trình được xác định bằng công thức sau nhưng tỷ lệ không thấp hơn 30%:

- Trong đó:

+ Tcl           : là tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà, công trình;

+ t            : thời gian đã sử dụng nhà, công trình;

+ T            : niên hạn sử dụng của nhà, công trình.

- Niên hạn sử dụng nhà, công trình được xác định như sau:

+ 15 năm đối với nhà hoặc kho một tầng: mái ngói hoặc mái tole, cột bê tông đúc sẵn hoặc cột gỗ nhóm 4 trở lên.

+ 20 năm đối với nhà hoặc kho một tầng: mái ngói hoặc mái tole, khung cột bê tông cốt thép.

+ 30 năm đối với nhà một tầng mái bằng bê tông cốt thép hoặc nhà 2 tầng mái ngói hoặc mái tole, khung cột bê tông cốt thép.

+ 50 năm đối với nhà 2 tầng trở lên: tường xây gạch, mái bằng bê tông cốt thép, khung cột bê tông cốt t

+ 30 năm đối với nhà xưởng và kho thông dụng quy định tại bảng suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép

3. Bồi thường, hỗ trợ di dời đối với công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thì mức bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương và thực hiện tương tự các bước thuê đơn vị tư vấn lập hồ sơ dự toán thiết kế, thẩm tra và giám sát khối lượng đã quy định tại Khoản 3 Điều 17 của quy định này; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi thường. Chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả tiền bồi thường cho chủ sở hữu công trình, không bồi thường bằng hiện vật hoặc xây dựng công trình mới để thay thế.

4. Nhà chỉ phá dỡ một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì tính bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà chỉ phá dỡ một phần nhưng còn sử dụng lại được thì tính bồi thường phần giá trị nhà bị phá dỡ và được hỗ trợ thêm để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của phần diện tích phá dỡ. Tỷ lệ hỗ trợ chi phí sửa chữa mặt tiền và phần diện tích còn lại nếu không sử dụng được thì Hội đồng bồi thường dự án xem xét, đề xuất trình phê duyệt cụ thể từng dự án; mức hỗ trợ từng trường hợp cụ thể như sau:

- Đối với nhà ở bị ảnh hưởng một phần, ranh giải tỏa ở giữa hai cột chịu lực thì diện tích bồi thường, hỗ trợ được tính thêm từ ranh giải tỏa vào đến cột chịu lực gần nhất của công trình kiến trúc phải phá dỡ. Sau khi tính thêm giá trị bồi thường đến vị trí cột chịu lực kế tiếp (nếu có), phần còn lại của nhà ở (chiều dài) từ năm (05) mét trở lên đối với nhà ở khu vực phường (thị trấn) hoặc từ tám (08) mét trở lên đối với nhà ở khu vực xã thì được hỗ trợ chi phí sửa chữa mặt tiền nhà ở tối đa 100% giá trị bồi thường phần diện tích bị ảnh hưởng nhưng tổng kinh phí bồi thường nhà ở và chi phí hỗ trợ sửa chữa mặt tiền nhà ở không vượt tổng kinh phí bồi thường toàn bộ căn nhà.

- Đối với nhà ở bị ảnh hưởng một phần, sau khi tính thêm giá trị bồi thường đến vị trí cột chịu lực kế tiếp (nếu có), phần còn lại của nhà (chiều dài) dưới năm (05) mét đối với nhà ở khu vực phường (thị trấn) hoặc dưới tám (08) mét đối với nhà ở khu vực xã thì được bồi thường toàn bộ căn nhà.

- Đối với Nhà kho, xưởng sản xuất, và các công trình khác:

+ Niên hạn sử dụng dưới 30 năm thì ngoài diện tích bị ảnh hưởng trong phạm vi giải tỏa được bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ chi phí sửa chữa mặt tiền nhà, công trình từ 20% đến 50% giá trị bồi thường phần diện tích bị ảnh hưởng nhưng tổng kinh phí bồi thường nhà, công trình và chi phí hỗ trợ sửa chữa mặt tiền không vượt tổng kinh phí bồi thường toàn bộ nhà, công trình đó;

+ Niên hạn sử dụng trên 30 năm thì phần sửa chữa mặt tiền cho lập dự toán, thẩm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt.

5. Trong những trường hợp đặc biệt, giao cho Hội đồng bồi thường dự án đề xuất trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.