vanban.org

Điều 19. Xử lý một số trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình : — Quyết định 51/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ
Hậu Giang Ban hành 24/11/2008 Hiệu lực 04/12/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 51/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 51/2008/QĐ-UBND
04/12/2008Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 14/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang · 14/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 51/2008/QĐ-UBND › Chương III › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Xử lý một số trường hợp bồi thường, hỗ trợ cụ thể về nhà, công trình :

1. Chủ sở hữu tài sản có nhà, công trình không được giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật thì tùy theo mức độ, tính chất hợp pháp của đất, nhà và công trình trên đất được bồi thường hoặc hỗ trợ như sau:

a. Nhà, công trình xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định tại Điều 8 và 9 của Quy định này thì được bồi thường theo quy định tại Điều 18 của Quy định này;

Trường hợp cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình không làm thay đổi kết cấu gắn liền với đất phải thu hồi từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau và tại thời điểm xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố nhưng có nhu cầu thực sự và được Ủy ban nhân dân cấp xã cho phép, thì được bồi thường 100% giá trị.

Trường hợp xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau và tại thời điểm xây dựng trái với mục đích sử dụng đất ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì căn cứ vào Điều 44, 45 và 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP để xác định mục đích sử dụng đất) nhưng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được xét duyệt thì được hỗ trợ tối đa 80% giá trị bồi thường.

b. Nhà, công trình xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định tại Điều 8 và 9 của Quy định này, nhưng tại thời điểm xây dựng mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường quy định tại Điều 18 của Quy định này;

c. Nhà, công trình xây dựng trước 01 tháng 7 năm 2004 trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định tại Điều 8 và 9 của Quy định này mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường; trường hợp đặc biệt, cơ quan có thẩm quyền xem xét hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể.

2. Nhà, công trình xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 8 và 9 của Quy định này mà khi xây dựng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thông báo không được phép xây dựng, bị lập biên bản vi phạm quy hoạch, lấn chiếm trái phép thì không được bồi thường, không được hỗ trợ; người có công trình xây dựng trái phép đó buộc phải tự tháo dỡ và tự chịu chi phí tháo dỡ trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền thực hiện tháo dỡ.

3. Hỗ trợ phá dỡ, di chuyển tài sản:

Đối với nhà, công trình phục vụ sinh hoạt hộ gia đình, cá nhân không đủ điều kiện bồi thường theo quy định, chỉ hỗ trợ chi phí phá dỡ, di chuyển bằng năm phần trăm (5%) giá trị nhà, công trình bị giải tỏa nhưng không thấp hơn 1.000.000 đồng/hộ, trong các trường hợp sau:

a. Nhà, công trình xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau mà khi xây dựng đã có văn bản ngăn chặn không cho phép xây dựng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

b. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 về sau và sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép xây dựng.