Điều 7. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất và chi phí đầu tư vào đất còn lại; xác nhận nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất ổn định.
1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về đất:
1.1. Người bị thu hồi đất có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai thì được bồi thường. Trường hợp, không đủ điều kiện bồi thường thì tùy theo từng trường hợp cụ thể được xem xét hỗ trợ như sau:
a. Người bị thu hồi đất đang sử dụng đất (sử dụng đất hợp pháp) vào mục đích nào, thì được bồi thường bằng việc giao lại đất có cùng mục đích sử dụng (nếu có). Trường hợp, bồi thường bằng việc giao lại đất, nếu có sự chênh lệch về diện tích hoặc giá trị thì người bị thu hồi đất được bồi thường thêm bằng tiền hoặc phải nộp thêm tiền vào ngân sách Nhà nước cho phần chênh lệch lớn hơn. Nếu không có đất để bồi thường, thì được bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
b. Người sử dụng đất ở hợp pháp, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng các hình thức sau: bố trí nhà ở tại khu tái định cư (nếu có), giao đất ởtại các khu tái định cư, tái định cư trên phần đất còn lại ( trường hợp còn đủ kích thước theo quy định của pháp luật về xây dựng ) hoặc bố trí xen cư trong các khu dân cư quy hoạch. Trường hợp, người có đất ở bị thu hồi đề nghị được tự lo liệu chỗ ở mới, thì được bồi thường bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất.
c. Người sử dụng đất được bồi thường hoặc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật, thì khấu trừ các khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để nộp vào ngân sách Nhà nước. Nghĩa vụ tài chính bao gồm: tiền sử dụng đất phải nộp, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu hồi ( nếu có ), tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý, sử dụng đất, phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất, ... Nếu các khoản nghĩa vụ tài chính về đất phải nộp lớn hơn hoặc bằng tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, thì số tiền phải nộp ngân sách Nhà nước tối đa bằng số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất.
2. Bồi thường, hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại:
2.1. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các khoản chi phí thực tế mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất theo mục đích được phép sử dụng, gồm: tiền sử dụng đất còn lại trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo, bồi trúc đất và các chi phí khác có liên quan.
2.2. Các chi phí này phải có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được, nếu không đủ hồ sơ, chứng từ thực tế chứng minh thì không được bồi thường hoặc hỗ trợ. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp mà người bị thu hồi đất thực tế có chi phí san lấp, tôn tạo, bồi trúc, nhưng không có chứng từ chứng minh, giao Tổ chức thực hiện công tác BT, TĐC phối hợp với UBND cấp xã, Chủ đầu tư kiểm tra, đề xuất mức hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể, lập thành biên bản, có chữ ký của các thành viên liên quan, đưa vào phương án bồi thường, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3. Xác định nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất ổn định:
Việc xác định nguồn gốc đất và thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định, được thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2 và 3, Điều 3, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Trường hợp, không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất, thì phải có xác nhận của UBND cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất, trên cơ sở thu thập ý kiến của những người chung quanh, cư trú cùng thời điểm với người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cưnơi có đất bị thu hồi (Biên bản họp nhân dân tại thôn, khối phố; tham dự họp có lãnh đạo của Tổ chức thực hiện công tác BT, TĐC, đại diện UBND, UBMTTQVN, các Tổ chức Đoàn thể và cán bộ địa chính cấp xã; trưởng thôn, khối phố trưởng và cùng ký tên), ý kiến của cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã ký xác nhận và chịu trách nhiệm trước pháp luật.