vanban.org

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất sản xuất nông nghiệp (SXNN). — Quyết định 29/2008/QĐ-UBND

Quảng Nam Ban hành 26/08/2008 Hiệu lực 05/09/2008 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 18 năm
Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 29/2008/QĐ-UBND
26/01/200903/2009/QĐ-UBNDSửa đổi Hiện hành 05/09/2008Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 29/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất sản xuất nông nghiệp (SXNN).

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đang sử dụng đất để trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản, đất trồng rừng sản xuất (kể cả đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước đã giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài) và đất làm muối trong hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật; diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức do được thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác (có một trong các giấy tờ theo quy định của pháp luật về đất đai) và đất tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, thì khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất. Trường hợp, bồi thường bằng việc giao đất mới, thì tuỳ vào thực tế quỹ đất nông nghiệp tại địa phương mà UBND cấp huyện quyết định mức giao đất mới cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không vượt quá diện tích đất thu hồi và không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

2. Đất sản xuất nông nghiệp sử dụng từ trước ngày 01/7/2004, nhưng không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và đất tự khai hoang không theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, nhưng diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70, Luật Đất đai và khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Trước khi lập phương án bồi thường đất đối với các trường hợp này phải được UBND cấp xã xác nhận là đất đó sử dụng ổn định, không có tranh chấp.

Đối với đất tự khai hoang quy định tại khoản 2, Điều này, khi có thông báo chủ trương thu hồi đất của cấp có thẩm quyền mà chưa xác định được loại đất (thuộc khu vực miền núi), thì việc áp giá bồi thường về đất căn cứ theo loại cây trồng hiện trạng trên đất khi kiểm kê (cây hằng năm, cây lâu năm hoặc cây rừng trồng,...) có mật độ chiếm trên 50% diện tích thửa đất (được xác định bằng số lượng cây trồng thực tế nhân (x) mật độ quy định) để xác định loại đất tính bồi thường theo giá đất tương ứng (đất trồng cây hằng năm, trồng cây lâu năm, đất trồng rừng,...). Trường hợp, trên đất trồng nhiều loại cây, nhưng không có loại cây nào có mật độ chiếm đất trên 50% diện tích trở lên, thì việc bồi thường về đất, giao Tổ chức thực hiện công tác BT, TĐC phối hợp với UBND cấp xã, nhà đầu tư và cơ quan liên quan ở địa phương lập biên bản để xác định loại đất, đưa vào phương án bồi thường, lập một danh mục riêng.

3. Các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều này (trừ diện tích đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, ao liền kề đất ở quy định tại khoản 2, Điều 11 trên đây). Ngoài việc bồi thường theo giá đất nông nghiệp có cùng mục đích sử dụng, còn được hỗ trợ thêm bằng tiền theo thực tế đất nông nghiệp bị thu hồi để góp phần ổn định đời sống ban đầu cho hộ gia đình, cá nhân.

3.1. Mức hỗ trợ như sau:

a. Đất trồng cây hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối: 5.000đ/m2.

b. Đất rừng sản xuất (không áp dụng đối với đất rừng trồng theo chương trình, dự án): 1.000đ/m2.

3.2. Đối với các địa phương có giá đất nông nghiệp theo Quyết định của UBND tỉnh công bố hằng năm thấp hơn mức hỗ trợ theo quy định trên đây, thì hỗ trợ theo mức giá đất do UBND tỉnh công bố.

3.3. Trường hợp, đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi nhưng được bồi thường lại bằng đất nông nghiệp thì việc hỗ trợ theo quy định tại tiết 3.1, khoản 3, Điều này chỉ tính cho phần diện tích chênh lệch của đất nông nghiệp bị thu hồi còn lại (nếu có).

4. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp không theo quy hoạch được duyệt, nhưng đất đã sử dụng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, thì không được bồi thường. Riêng đối với khu vực miền núi, được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng ổn định, không tranh chấp, thì được hỗ trợ 30% theo giá đất nông nghiệp có cùng mục đích sử dụng. Việc hỗ trợ này phải lập thành biên bản có xác nhận của Tổ chức thực hiện công tác BT, TĐC, UBND cấp xã, nhà đầu tư.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại hoặc được hỗ trợ theo quy định như sau:

5.1. Hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa theo giá đất nông nghiệp có cùng mục đích sử dụng, theo diện tích đất thực tế bị thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của UBND tỉnh. Giao Tổ chức thực hiện công tác BT, TĐC phối hợp với UBND cấp xã, nhà đầu tư và cơ quan có liên quan kiểm tra, đề xuất mức hỗ trợ, lập thành biên bản đưa vào phương án bồi thường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5.2. Trường hợp, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán đất không thuộc đối tượng tại tiết 5.1, khoản 5, Điều này, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.

5.3. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường về đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí đầu tư này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước.

6. Đối với đất lâm nghiệp đã quy hoạch trồng rừng sản xuất, kinh doanh mà Nhà nước chưa giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân thì khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).

 7. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất, mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật; nếu là hộ gia đình, cá nhân có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì UBND cấp huyện xem xét quỹ đất nông nghiệp tại địa phương để giao đất sản xuất nông nghiệp phù hợp với nơi ở, tập quán sinh sống, canh tác của nhân dân.

8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 70, Luật Đất đai; khoản 1, Điều 69, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ thì không được bồi thường về đất, nhưng được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).