Điều 14. Hoàn trả, thu hồi kinh phí hỗ trợ đã thanh toán
1. Kinh phí hỗ trợ đã thanh toán cho nhà cung cấp bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:
a) Giao dịch, hoạt động, nhiệm vụ, dự án hoặc nội dung được hỗ trợ bị hủy, chấm dứt, điều chỉnh, giảm giá, hoàn tiền hoặc phát sinh sự kiện khác làm cho số tiền hỗ trợ đã thanh toán cao hơn số tiền hỗ trợ thực tế đủ điều kiện;
b) Qua kiểm tra, đối soát hoặc hậu kiểm phát hiện khoản hỗ trợ được thanh toán trên cơ sở thông tin, dữ liệu hoặc tài liệu không chính xác, không trung thực; giao dịch giả mạo, trùng lặp; không đúng đối tượng, điều kiện, sản phẩm, dịch vụ, giá trị hoặc mức hỗ trợ;
c) Có sai sót trong xử lý, đối soát, xác định số tiền hoặc thanh toán khoản hỗ trợ;
d) Đối tượng thụ hưởng, cơ quan, tổ chức, đơn vị được hỗ trợ, nhà cung cấp hoặc bên có liên quan có hành vi giả mạo, thông đồng hoặc thực hiện hành vi nhằm trục lợi chính sách;
đ) Có quyết định, kết luận hoặc văn bản xử lý của cơ quan có thẩm quyền.
2. Số tiền phải thu hồi là phần chênh lệch giữa số tiền hỗ trợ đã thanh toán và số tiền hỗ trợ thực tế đủ điều kiện. Trường hợp chỉ một phần giao dịch không đủ điều kiện hỗ trợ thì chỉ thu hồi số tiền tương ứng với phần đó; trường hợp toàn bộ giao dịch không đủ điều kiện hỗ trợ thì thu hồi toàn bộ số tiền đã thanh toán.
3. Chủ thể có trách nhiệm hoàn trả kinh phí được xác định như sau:
a) Đối tượng thụ hưởng có trách nhiệm hoàn trả số tiền hỗ trợ phải thu hồi nếu khoản hỗ trợ bị thu hồi do lỗi của mình, bao gồm kê khai hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác; sử dụng phiếu hỗ trợ sai mục đích; không đáp ứng điều kiện hỗ trợ hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ theo Quyết định này;
b) Nhà cung cấp có trách nhiệm hoàn trả số tiền hỗ trợ phải thu hồi nếu khoản hỗ trợ bị thu hồi do lỗi của nhà cung cấp, bao gồm không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sản phẩm, dịch vụ đã được thanh toán; cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu không chính xác làm khoản hỗ trợ được thanh toán không đúng; hoặc có hành vi vi phạm khác dẫn đến khoản hỗ trợ đã thanh toán cao hơn khoản hỗ trợ lẽ ra được thanh toán theo đúng quy định hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ theo Quyết định này;
c) Trường hợp khoản phải thu hồi phát sinh do hành vi của cả nhà cung cấp và đối tượng thụ hưởng, quyết định thu hồi xác định trách nhiệm và số tiền phải hoàn trả của từng bên căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, số tiền hoặc lợi ích đã nhận. Trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm liên đới thì thực hiện theo quy định đó;
d) Trường hợp khoản phải thu hồi phát sinh do sai sót của Hệ thống mà nhà cung cấp và đối tượng thụ hưởng không có lỗi, số tiền thanh toán vượt mức hợp lệ được thu hồi từ bên đã trực tiếp nhận khoản thanh toán vượt mức đó.
4. Việc xác minh và quyết định thu hồi được thực hiện như sau:
a) Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan xác minh căn cứ thu hồi, nguyên nhân, phạm vi, số tiền và chủ thể có trách nhiệm hoàn trả;
b) Nhà cung cấp và đối tượng thụ hưởng được thông báo bằng văn bản về nội dung dự kiến xử lý và có ít nhất 05 ngày làm việc để cung cấp thông tin, tài liệu, giải trình;
c) Căn cứ kết quả xác minh và giải trình, Sở Khoa học và Công nghệ ban hành quyết định thu hồi trong phạm vi thẩm quyền; trường hợp vượt thẩm quyền, Sở chuyển hồ sơ và đề xuất cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định thu hồi phải xác định rõ căn cứ thu hồi; hành vi, sự kiện hoặc sai sót làm phát sinh khoản phải thu hồi; số tiền phải thu hồi; chủ thể có trách nhiệm hoàn trả; thời hạn, tài khoản nộp trả và biện pháp xử lý khi không thực hiện đầy đủ, đúng hạn.
5. Việc hoàn trả, thu hồi được thực hiện theo một hoặc kết hợp các phương thức sau đây:
a) Chủ thể có trách nhiệm hoàn trả nộp số tiền phải thu hồi vào ngân sách nhà nước trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi;
b) Khấu trừ vào khoản tiền khác được thanh toán trực tiếp cho chính chủ thể có nghĩa vụ hoàn trả. Việc khấu trừ phải được xác định trong quyết định thu hồi và không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng thụ hưởng, nhà cung cấp hoặc bên thứ ba không có trách nhiệm hoàn trả;
c) Phương thức khác theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.
6. Kinh phí thu hồi được hạch toán giảm chi, nộp trả ngân sách hoặc xử lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan. Việc sử dụng lại kinh phí thu hồi để thực hiện chính sách hỗ trợ được thực hiện khi đáp ứng điều kiện và còn trong thời hạn bố trí, sử dụng kinh phí của đợt hỗ trợ.
7. Trường hợp không hoàn trả đầy đủ, đúng thời hạn:
a) Đối với đối tượng thụ hưởng: hủy phần phiếu hỗ trợ còn lại; chưa xem xét cấp phiếu hoặc hỗ trợ mới cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ; áp dụng tiền chậm nộp, tiền lãi hoặc biện pháp thu hồi khác nếu pháp luật có quy định;
b) Đối với nhà cung cấp: tạm ngừng áp dụng sản phẩm, dịch vụ đối với việc cấp phiếu mới và tạm ngừng xác lập giao dịch hỗ trợ mới cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ; khấu trừ khoản phải hoàn trả theo khoản 5 Điều này; áp dụng tiền chậm nộp, tiền lãi hoặc biện pháp thu hồi khác nếu pháp luật có quy định;
c) Chuyển thông tin, hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền nếu có dấu hiệu vi phạm hoặc cần áp dụng biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
8. Quy định tại Điều này được áp dụng tương ứng đối với các khoản hỗ trợ quy định tại Chương III, Chương IV, Chương V và Chương VI của Quyết định này. Đối với khoản hỗ trợ không thực hiện thông qua phiếu hỗ trợ, cơ quan, tổ chức, đơn vị được hỗ trợ hoặc chủ thể trực tiếp nhận khoản kinh phí được thanh toán không đúng, vượt mức đủ điều kiện hoặc có hành vi làm phát sinh khoản phải thu hồi có trách nhiệm hoàn trả kinh phí; Sở Khoa học và Công nghệ thực hiện trách nhiệm xác minh, quyết định thu hồi. Trường hợp không hoàn trả đầy đủ, đúng thời hạn, chủ thể có nghĩa vụ hoàn trả chưa được xem xét hỗ trợ mới cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ và bị áp dụng biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật. Nội dung chi tiết đến việc hoàn trả, thu hồi được ban hành trong các quyết định hỗ trợ cụ thể. Các biện pháp liên quan đến hủy phiếu hỗ trợ, tạm ngừng áp dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc tạm ngừng xác lập giao dịch hỗ trợ mới chỉ áp dụng đối với khoản hỗ trợ thực hiện thông qua phiếu hỗ trợ.