Điều 44. Tổ chức Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tiến hành giám sát chuyên đề
1. Căn cứ chương trình giám sát của mình hoặc khi được Quốc hội giao, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua nghị quyết thành lập Đoàn giám sát để tiến hành giám sát chuyên đề.
Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát chủ trì, phối hợp với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát xây dựng dự thảo nghị quyết thành lập Đoàn giám sát, gửi xin ý kiến Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua.
2. Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ mục đích, phạm vi, đối tượng, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.
Đoàn giám sát do một Phó Chủ tịch Quốc hội hoặc Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm Trưởng Đoàn, các thành viên khác gồm đại diện Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội am hiểu về nội dung chuyên đề giám sát và đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tại địa phương nơi Đoàn đến làm việc. Đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chuyên gia có kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về chuyên đề giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có thể được mời tham gia hoạt động của Đoàn giám sát.
3. Trong quá trình giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Điều chỉnh thành phần Đoàn giám sát trong trường hợp cần thiết theo đề nghị của Trưởng Đoàn giám sát;
b) Chỉ đạo Đoàn giám sát xây dựng kế hoạch giám sát (trong đó xác định cụ thể nội dung tập trung giám sát), các đề cương báo cáo, tổ chức triển khai thực hiện và tổng hợp, xây dựng báo cáo kết quả giám sát;
c) Khi xét thấy cần thiết, đề nghị Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát; Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tổ chức hoạt động giải trình; Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương về các nội dung liên quan đến chuyên đề giám sát.
4. Đoàn giám sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng và thông báo kế hoạch giám sát, đề cương báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát, đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, đề cương báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết thành lập Đoàn giám sát. Thời gian để cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát xây dựng báo cáo và gửi đến Đoàn giám sát do Đoàn giám sát quyết định nhưng không ít hơn 60 ngày kể từ ngày ban hành kế hoạch;
b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 4 Điều 41 của Nghị quyết này;
c) Báo cáo kết quả giám sát để Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
5. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực có liên quan đến chuyên đề giám sát giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này và xây dựng dự thảo nghị quyết giám sát chuyên đề theo quy định tại khoản 3 Điều 42 của Nghị quyết này; Đoàn đại biểu Quốc hội giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm c khoản 3 Điều này.