Điều 16. Trách nhiệm xem xét báo cáo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Tại kỳ họp, Quốc hội xem xét các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo của Chính phủ về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước;
b) Báo cáo công tác hằng năm, báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
c) Báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chủ tịch nước; báo cáo công tác hằng năm, báo cáo công tác nhiệm kỳ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;
d) Báo cáo của Chính phủ về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiết kiệm, chống lãng phí; công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; công tác thi hành án; việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;
đ) Báo cáo khác theo quy định của pháp luật hoặc đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp thường lệ của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét các báo cáo quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều này do Quốc hội giao hoặc khi xét thấy cần thiết.
3. Thời điểm Quốc hội xem xét các báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện như sau:
a) Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định rõ thời điểm trình Quốc hội xem xét thì thực hiện theo quy định của luật, nghị quyết.
Căn cứ tình hình thực tế, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể đề nghị điều chỉnh thời điểm trình Quốc hội khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định khi xây dựng chương trình kỳ họp;
b) Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội không quy định rõ thời điểm trình Quốc hội xem xét thì thực hiện theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.