vanban.org

Điều 46. Chấm dứt tổ chức thi hành án — Nghị định 151/2026/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 13/05/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 5 phiên bản · 12 năm
Nghị định số 151/2026/NĐ-CP về Quy định về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên · 151/2026/NĐ-CP
01/07/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Nghị định số 08/2020/NĐ-CP Về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại · 08/2020/NĐ-CP
Nghị định số 135/2013/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh · 135/2013/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 151/2026/NĐ-CP › Chương IV › Mục 4 › Điều 46
Đọc toàn văn

Điều 46. Chấm dứt tổ chức thi hành án

1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt việc thi hành án và thanh lý hợp đồng dịch vụ theo quy định tại các điểm b, c và đ khoản 5 Điều 31 của Luật Thi hành án dân sự, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án. Quyết định thu hồi quyết định thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

Đối với tiền, tài sản văn phòng thi hành án dân sự đã thu được (nếu có) nhưng không có người nhận thì xử lý theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 59 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp phải ra quyết định sung quỹ nhà nước thì văn phòng thi hành án dân sự đề nghị cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn nơi văn phòng đặt trụ sở ra quyết định sung quỹ nhà nước và chuyển nộp số tiền đó vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan thi hành án dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Sau khi việc thi hành án chấm dứt theo quy định tại các điểm b và c khoản 5 Điều 31 của Luật Thi hành án dân sự, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc văn phòng thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành án.

3. Trường hợp phát sinh tranh chấp giữa văn phòng thi hành án dân sự và người yêu cầu thi hành án sau khi chấm dứt việc thi hành án được giải quyết theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ; trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự và tố tụng dân sự.