Điều 45. Trách nhiệm phối hợp giữa văn phòng thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong tổ chức thi hành án
1. Trong cùng một bản án, quyết định hoặc nhiều bản án, quyết định nhưng cùng một người phải thi hành án cho nhiều người được thi hành án mà có đương sự yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự, có đương sự yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự khi nhận được quyết định thi hành án do văn phòng thi hành án dân sự chuyển theo quy định tại Điều 42 Nghị định này thông báo cho văn phòng thi hành án dân sự biết việc cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành bản án, quyết định.
2. Sau khi thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự mà vẫn còn tiền để trả lại cho người phải thi hành án thì thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thanh toán xong tiền thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật Thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo cho văn phòng thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành biết về số tiền còn lại của người phải thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự phải có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án dân sự chuyển số tiền còn lại của người phải thi hành án cho văn phòng thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của văn phòng thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự chuyển tiền cho văn phòng thi hành án dân sự để tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật, đồng thời phải thông báo cho người phải thi hành án biết;
b) Văn phòng thi hành án dân sự phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án biết để thu tiền của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 74 của Luật Thi hành án dân sự.