Điều 44. Chuyển hồ sơ thi hành án giữa cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng thi hành án dân sự
1. Trường hợp người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điểm d khoản 5 Điều 31 của Luật Thi hành án dân sự thì việc chuyển hồ sơ thực hiện như sau:
a) Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án. Nội dung quyết định thu hồi phải ghi rõ căn cứ thu hồi; số, ngày, tháng, năm của quyết định thi hành án bị thu hồi; kết quả thi hành án đến thời điểm thu hồi và nội dung thu hồi (trong trường hợp thu hồi một phần quyết định thi hành án); hậu quả pháp lý và mục đích của việc thu hồi;
b) Hồ sơ thi hành án chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự phải bảo đảm theo quy định tại Điều 12 của Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự và pháp luật khác có liên quan tại thời điểm bàn giao.
Việc giao, nhận hồ sơ phải được lập thành biên bản theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định.
2. Thù lao, chi phí thi hành án thực hiện theo hợp đồng dịch vụ tổ chức thi hành án. Chi phí thi hành án kể từ thời điểm cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
3. Các trường hợp yêu cầu thi hành án sau khi chấm dứt thi hành án tại văn phòng thi hành án dân sự theo quy định tại các điểm b và c khoản 5 Điều 31 của Luật Thi hành án dân sự và gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 38 của Luật Thi hành án dân sự thì văn phòng thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự đã tổ chức thi hành án trước đó không phải chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự nhận được yêu cầu thi hành án trở lại của đương sự.