vanban.org

Điều 7. Trường hợp ký trực tiếp văn bản giấy — Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 09/09/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-TANDTC-VKSNDTC › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Trường hợp ký trực tiếp văn bản giấy

1. Văn bản được lập và ký trực tiếp trên bản giấy trong các trường hợp sau:

a) Pháp luật có quy định phải lập bằng văn bản giấy;

b) Văn bản có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước ở cấp độ mật mà phần mềm được triển khai trên hệ thống thông tin chưa triển khai các giải pháp bảo mật cơ yếu và chưa đảm bảo an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ tương ứng theo quy định về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền;

c) Người có thẩm quyền chưa được cấp chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ; chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ hết hiệu lực, bị thu hồi vì lý do khách quan hoặc không đảm bảo an toàn, không thể sử dụng được tại thời điểm ký;

d) Hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thông tin, phần mềm chuyên dụng hoặc dịch vụ chứng thực chữ ký số gặp sự cố, không đảm bảo việc ký số theo quy định;

đ) Do tình trạng khẩn cấp, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không thể thực hiện việc lập, ký số hoặc gửi, nhận văn bản điện tử.

2. Văn bản giấy được lập theo các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này phải được số hóa, cập nhật vào hồ sơ điện tử ngay sau khi điều kiện kỹ thuật được đảm bảo; việc cập nhật phải ghi nhận trên hệ thống lý do, thời điểm cập nhật và người thực hiện để phục vụ việc kiểm tra, giám sát. Cơ quan lập văn bản giấy chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và thống nhất giữa văn bản giấy và hồ sơ điện tử được cập nhật.