vanban.org

Điều 5. Hình thức xác nhận điện tử khác — Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-TANDTC-VKSNDTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 09/09/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư liên tịch 13/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-TANDTC-VKSNDTC › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Hình thức xác nhận điện tử khác

1. Hình thức xác nhận điện tử khác không phải là chữ ký số gồm: sử dụng chức năng xác nhận bằng vân tay hoặc xác thực sinh trắc học bằng khuôn mặt thông qua thiết bị điện tử; ký trên màn hình thiết bị điện tử tích hợp trên phần mềm chuyên dụng; tiến hành xác thực nhiều lớp khi điều kiện thực hiện được đảm bảo. Cơ quan có thẩm quyền căn cứ điều kiện hạ tầng kỹ thuật, yêu cầu nghiệp vụ để lựa chọn, áp dụng hình thức xác nhận điện tử phù hợp; việc lựa chọn, áp dụng phải đảm bảo khả năng kết nối, liên thông, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu giữa các phần mềm chuyên dụng, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.

2. Việc thực hiện hình thức xác nhận điện tử khác của người tham gia hoạt động tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; thi hành án hình sự tại cộng đồng; tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ tư pháp; quản lý kho vật chứng và tài liệu, đồ vật phải được ghi nhận nhật ký điện tử, lưu trữ thông tin về thời điểm xác nhận, hình thức xác nhận và các thông tin kỹ thuật; trường hợp cần thiết có thể ghi hình để phục vụ việc kiểm tra, đối chiếu khi cần thiết.