Điều 23. Chế độ thông tin, báo cáo
1. Chế độ thông tin, báo cáo phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và thông tin về hoạt động của Chính phủ cho Nhân dân thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ.
2. Thứ trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị báo cáo Bộ trưởng theo các hình thức: Báo cáo trực tiếp, báo cáo bằng văn bản, báo cáo thông qua các phiên họp thường kỳ và bất thường của Lãnh đạo Bộ. Nội dung báo cáo gồm những vấn đề sau:
a) Tình hình thực hiện những công việc thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; những việc vượt quá thẩm quyền cần xin ý kiến Bộ trưởng;
b) Nội dung và kết quả các cuộc họp, hội nghị khi được Bộ trưởng ủy quyền tham dự hoặc chủ trì, chỉ đạo các cuộc họp, hội nghị đó;
c) Kết quả làm việc và những kiến nghị của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, các ban, bộ, ngành, địa phương và đối tác khác hoặc khi được cử tham gia các đoàn công tác ở trong nước hoặc nước ngoài.
3. Các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ phải chấp hành nghiêm chế độ báo cáo theo quy định của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chịu trách nhiệm cập nhật, cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, dữ liệu và dự thảo báo cáo những vấn đề thuộc ngành mình quản lý để Bộ trưởng xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định. Trường hợp có vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền, chỉ huy cơ quan, đơn vị phải báo cáo Thủ trưởng Bộ để kịp thời xử lý.
Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ có trách nhiệm tổ chức kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý vào hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và Bộ Quốc phòng theo đúng quy định.
Trường hợp Văn phòng Bộ Quốc phòng không tham gia phục vụ Thủ trưởng Bộ chủ trì hoặc tham dự các cuộc họp, hội nghị, chuyến công tác, giải quyết công việc: Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc sau khi kết thúc, cơ quan, đơn vị, Thư ký Thủ trưởng Bộ được giao phục vụ có trách nhiệm tổng hợp bằng văn bản ý kiến chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ, gửi về Văn phòng Bộ Quốc phòng để tổng hợp, thông báo đến cơ quan, đơn vị liên quan biết, thực hiện.
4. Chế độ thông tin báo cáo bằng văn bản:
a) Báo cáo định kỳ: Báo cáo tháng, trước ngày 20 hằng tháng; báo cáo quý, trước ngày 15 của tháng cuối quý; báo cáo 06 tháng, trước ngày 10 tháng 6 hằng năm; báo cáo năm, trước ngày 05 tháng 12 hằng năm. Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng Bộ yêu cầu báo cáo chuyên đề hoặc đột xuất;
b) Khi có tình huống đột xuất, như: Thiên tai, dịch bệnh, tai nạn hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật nghiêm trọng, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải bằng mọi phương tiện báo cáo ngay với Thủ trưởng Bộ;
c) Chuẩn bị các báo cáo khác khi được Lãnh đạo Bộ giao.
5. Ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng thực hiện các nội dung sau đây:
a) Tổ chức cung cấp thông tin hằng ngày, hằng tuần báo cáo Thủ trưởng Bộ về các vấn đề đã được giải quyết; những công việc còn tồn đọng;
b) Chuẩn bị báo cáo tại cuộc họp, hội nghị của Lãnh đạo Bộ và giao ban Bộ hằng tháng;
c) Tổng hợp và xây dựng báo cáo công tác của Bộ gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
d) Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo và tổ chức khai thác thông tin phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng;
đ) Đề xuất và báo cáo Thủ trưởng Bộ những vấn đề cần xử lý qua phản ánh của báo chí, dư luận xã hội liên quan đến Bộ Quốc phòng;
e) Thừa lệnh Bộ trưởng ký các báo cáo hằng tuần của Bộ Quốc phòng gửi Văn phòng Chính phủ. Cập nhật vào Hệ thống cơ sở dữ liệu theo dõi, đôn đốc, thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao những thông tin cần thiết cho hoạt động của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành có phạm vi thực hiện trong cả nước (trừ các nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước có cấp độ mật không được đưa lên môi trường điện tử) theo Quy chế làm việc của Chính phủ.
6. Đối với những vấn đề cần thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trả lời báo chí, thực hiện theo quy định phát ngôn của Bộ Quốc phòng.