Điều 21. Vị trí điểm kết cuối của mạng
1. Đối với đường dây thuê bao hữu tuyến, nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ thì vị trí điểm kết cuối của mạng điện thoại công cộng được xác định là phía thuê bao của:
a) Hộp đầu cáp cuối cùng lắp đặt tại nhà thuê bao; hoặc
b) Hộp đầu dây thuê bao lắp đặt tại nhà thuê bao nếu điều kiện tại điểm a nêu trên không thoả mãn; hoặc
c) Ổ giắc cắm thiết bị đầu cuối thuê bao đầu tiên tại nhà thuê bao, nếu điều kiện tại các điểm a và b nêu trên không thoả mãn.
2. Đối với đường dây thuê bao vô tuyến cố định, nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ, thì vị trí điểm kết cuối của mạng điện thoại công cộng được xác định là phía thuê bao của:
a) Ổ giắc cắm tại bộ thiết bị đầu cuối thuê bao, nếu thiết bị đầu cuối thuê bao là loại cố định; hoặc
b) Anten trạm vô tuyến gốc của đơn vị cung cấp dịch vụ nếu thiết bị đầu cuối thuê bao là loại di động.
3. Đối với đường trung kế hữu tuyến nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ, thì vị trí điểm kết cuối của mạng điện thoại công cộng được xác định là phía thuê bao của:
a) Hộp đầu cáp cuối cùng lắp đặt tại nhà thuê bao; hoặc
b) Phiến (bảng) đấu dây của thiết bị truyền dẫn hữu tuyến lắp đặt tại nhà thuê bao, nếu điều kiện tại điểm a nêu trên không thoả mãn; hoặc
c) Phiến (bảng) đấu dây trên giá đấu dây (MDF) của thiết bị đầu cuối thuê bao nhiều đường lắp đặt tại nhà thuê bao, nếu các điều kiện tại điểm a và b nêu trên không thoả mãn.
4. Đối với đường trung kế vô tuyến, nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ, thì vị trí điểm kết cuối của mạng điện thoại công cộng được xác định là phía thuê bao của:
a) Phiến (bảng) đấu dây của thiết bị truyền dẫn vô tuyến lắp đặt tại nhà thuê bao; hoặc
b) Phiến (bảng) đấu dây trên giá đấu dây (MDF) của thiết bị đầu cuối thuê bao nhiều đường lắp đặt tại nhà thuê bao, nếu điều kiện tại điểm a nêu trên không thoả mãn.