vanban.org

Điều 19. Giải quyết một số trường hợp cụ thể trong công tác cấp giấy chứng nhận — Quyết định 737/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/12/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 29/12/2014 Thay thế: 43/2014/QĐ-UBND · 19/12/2014 Sửa đổi, bổ sung: 278/2012/QĐ-UBND · 09/03/2012
Cao Bằng Ban hành 19/05/2010 Hiệu lực 29/05/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 43/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 737/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy định về lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng · 737/2010/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 737/2010/QĐ-UBND › Chương III › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Giải quyết một số trường hợp cụ thể trong công tác cấp giấy chứng nhận

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định nhưng không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì phải tự kê khai cụ thể về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất trên đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận để thẩm tra, xem xét cấp giấy chứng nhận lần đầu theo khoản 4, 6, 7, 8 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và không đòi hỏi người sử dụng đất tự làm giấy xác nhận.

2. Trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng sai lệch về diện tích, kích thước cạnh do trước đây chỉ tính sơ bộ về chiều dài, chiều rộng, diện tích thì giải quyết theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP:

a) Nếu ranh giới được mô tả phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, qua thẩm tra, kiểm tra thực địa tại địa phương cho thấy việc sử dụng đất đã ổn định, không có tranh chấp, không lấn chiếm và phù hợp với quy hoạch thì dùng diện tích thực tế để lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận;

b. Trường hợp người sử dụng đất thực tế có mở rộng ranh giới, diện tích nếu không có tranh chấp, không ảnh hưởng đến quy hoạch thì được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần diện tích mở rộng theo quy định hiện hành.

3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không tranh chấp, không ảnh hưởng đến quy hoạch thì được xét cấp cấp Giấy chứng nhận lần đầu theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.

4. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng đất ổn định từ 15-10-1993 đến trước ngày 01-7-2004, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận lần đầu và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ và Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thu tiền sử dụng đất.

5. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định thuộc thời điểm phải nộp tiền sử dụng đất, nhưng có khó khăn chưa nộp được thì được ghi nợ trên Giấy chứng nhận lần đầu theo giá tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận. Việc ghi nợ thực hiện theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.

Các trường hợp ghi nợ trên chỉ được thực hiện các quyền: Chuyển nhượng, cho thuê, cho tặng, thừa kế, thế chấp khi đã hoàn thành trả nợ. Các văn bản chuyển nhượng, cho thuê, cho tặng, thừa kế, thế chấp, chỉ có giá trị pháp lý khi đã hoàn thành việc xoá nợ trên giấy chứng nhận.

6. Trường hợp đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua nhiều lần, trước ngày ban hành Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ; Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 6 năm 2000 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền”; Luật thuế thu nhập cá nhân thì chỉ làm thủ tục chuyển nhượng, nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay là thuế thu nhập cá nhân) và lệ phí trước bạ một lần. Sau ngày 08 tháng 6 năm 2000, mỗi lần chuyển nhượng, các đối tượng sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay là thuế thu nhập cá nhân) từ chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo quy định hiện hành.

7. Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan nhưng đến trước ngày 01-7-2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất. Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất thì phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay là thuế thu nhập cá nhân) và lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 6 điều này.

Hộ gia đình cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước 15 tháng 10 năm 1993, được Uỷ ban nhân đân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt, công bố thì giải quyết theo khoản 3 Điều này và không phải nộp tiền sử dụng đất, chỉ làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận.

8. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nằm trong phạm vi quy hoạch chuyển mục đích sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi thì vẫn được xét cấp giấy chứng nhận theo quy định chung, nhưng người sử dụng đất phải chấp hành đúng quy định về xây dựng, quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.

9. Trường hợp được giao đất cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất do chuyển nhượng, thừa kế, cho tặng... các nội dung thông tin cần thiết đã ghi đầy đủ và được thẩm tra theo hồ sơ giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất thì dùng hồ sơ đó để cấp giấy chứng nhận.