Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở được thực hiện theo quy định tại Điều 79 Luật Đất đai và Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP; một số nội dung được quy định cụ thể như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai mà không còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 79 của Luật Đất đai; trường hợp còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với huyện, thị xã, thành phố có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở. Giao Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định nhưng không vượt quá diện tích đất ở thu hồi.
2. Hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này có diện tích thu hồi đất ở lớn hơn diện tích 01 lô đất ở tái định cư đối với huyện, thị xã, thành phố có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét giao đất ở tại khu tái định cư nhiều hơn 01 lô. Giao Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định nhưng không vượt quá diện tích đất ở thu hồi.
3. Trường hợp diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực xây dựng thì Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
4. Trường hợp diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi lớn hơn diện tích tối thiểu được phép xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực xây dựng nhưng nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh, nếu hộ gia đình, cá nhân có đơn đề nghị Nhà nước thu hồi thì Nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì được giao đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình. Trường hợp có hộ phụ mới nhập khẩu vào hộ chính sau ngày công bố thông báo thu hồi đất thì không được giao đất ở, nhà ở tái định cư; trường hợp cá biệt, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.
6. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở (bao gồm cả trường hợp có nhà ở trên đất của người khác), nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh; giá đất ở tính tiền sử dụng theo quy định tại Điều 28 của Quy định này. Trường hợp cá biệt, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.
7. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi xác nhận hộ cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam còn hoặc không còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn.