Điều 22. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở quy định tại Điểm c khoản 2 Điều 83, khoản 4 Điều 86 của Luật Đất đai, Điều 22 và Điều 27 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
1. Các trường hợp được xem xét hỗ trợ tái định cư:
a) Trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định của pháp luật về đất đai khi Nhà nước thu hồi đất ở, phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi.
b) Trường hợp thu hồi đất ở của Hộ gia đình quy định tại Điểm a khoản này mà trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú khi Nhà nước thu hồi đất ở, phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn thì chỉ hỗ trợ cho hộ gia đình đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hộ gia đình đứng tên để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
c) Trường hợp có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai khi Nhà nước thu hồi đất ở, phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trên địa bàn xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ tái định cư cho từng hộ đang sử dụng đất tại thửa đất ở bị thu hồi.
2. Mức hỗ trợ tái định cư:
a) Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng quy định tại các điểm a và b khoản 1 Điều này mà số tiền bồi thường đất ở, nhà ở nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều này thì được hỗ trợ 100% khoản chênh lệch đó.
b) Hộ gia đình thuộc đối tượng quy định tại Điểm c khoản 1 Điều này mà số tiền bồi thường đất ở, nhà ở nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 3 Điều này thì mỗi hộ được hỗ trợ 70% khoản chênh lệch đó.
3. Giá trị một suất tái định cư tối thiểu được quy định cụ thể như sau:
a) Đối với địa phương có khu tái định cư để bố trí tái định cư thì giá trị một suất tái định cư tối thiểu được xác định bằng giá trị một ngôi nhà một tầng, móng đá, tường gạch, mái ngói (tôn), chiều cao 3,6m, diện tích xây dựng 50m2 và giá trị một lô đất ở tại khu tái định cư có diện tích theo từng khu vực như sau:
- 70 m2 đối với các phường thuộc thành phố Tuy Hòa, các phường thuộc thị xã Sông Cầu và các thị trấn thuộc các huyện Tây Hòa, Đông Hòa, Phú Hòa và Tuy An.
- 100 m2 đối với các xã Bình Ngọc, Bình Kiến thuộc thành phố Tuy Hòa và các thị trấn thuộc các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa và Sông Hinh.
- 150 m2 đối với các xã Hòa Kiến, An Phú thuộc thành phố Tuy Hòa, các xã đồng bằng thuộc thị xã Sông Cầu, các xã đồng bằng thuộc các huyện Tây Hòa, Đông Hòa, Phú Hòa và Tuy An.
- 200 m2 đối với các xã miền núi trên địa bàn tỉnh.
Giá đất ở được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở tại khu tái định cư trong Bảng giá các loại đất trên địa bàn Tỉnh hiện hành; giá nhà ở được xác định theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh hiện hành.
b) Đối với địa phương không có khu tái định cư mà được tái định cư xen ghép thì giá trị một suất tái định cư tối thiểu được xác định bằng diện tích đất ở, diện tích nhà ở quy định tại Điểm a khoản này; giá đất ở tính theo giá đất ở trong Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh hiện hành tại vị trí đất ở xen ghép, giá nhà ở được xác định theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh hiện hành.
4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở hoặc bố trí tái định cư tại chỗ thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư quy định cụ thể như sau:
a) Trường hợp diện tích đất ở thu hồi bằng hoặc lớn hơn diện tích theo từng khu vực quy định tại Điểm a khoản 3 Điều này mà số nhân khẩu của hộ gia đình ít hơn 4 nhân khẩu thì được hỗ trợ bằng 20% giá trị phần diện tích đất ở thu hồi; nếu số nhân khẩu của hộ gia đình từ 4 nhân khẩu trở lên thì được hỗ trợ bằng 25% giá trị phần diện tích đất ở thu hồi; giá đất ở tính theo giá đất ở trong Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh hiện hành tại vị trí thu hồi.
b) Trường hợp diện tích đất ở thu hồi nhỏ hơn diện tích theo từng khu vực quy định tại Điểm a khoản 3 Điều này mà số nhân khẩu của hộ gia đình ít hơn 4 nhân khẩu thì được hỗ trợ bằng 25% giá trị phần diện tích đất ở thu hồi; nếu số nhân khẩu của hộ gia đình từ 4 nhân khẩu trở lên thì được hỗ trợ bằng 30% giá trị phần diện tích đất ở thu hồi; giá đất ở tính theo giá đất ở trong Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh hiện hành tại vị trí thu hồi.
c) Số nhân khẩu của hộ gia đình quy định tại các điểm a và b khoản này được xác định theo nhân khẩu trong sổ hộ khẩu trừ số nhân khẩu đang làm ăn, sinh sống ổn định ở nơi khác. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm xác định số nhân khẩu đang sinh sống ổn định ở nơi khác. Nhân khẩu mới nhập khẩu sau ngày công bố thông báo thu hồi đất thì không được tính, trường hợp cá biệt giao Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, giải quyết.