Điều 31. Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại các Điều 69 và 93 của Luật Đất đai, Điều 28 và 30 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Điều 13 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, được quy định cụ thể như sau:
1. Công bố kế hoạch và thông báo thu hồi đất:
Sau khi nhận được kế hoạch thu hồi đất và thông báo thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập kế hoạch chi tiết thực hiện kế hoạch thu hồi. Nội dung chủ yếu của kế hoạch chi tiết gồm các bước công việc và thời gian thực hiện bước công việc theo trình tự quy định tại Điều này; Quyết định thành lập Tổ kiểm kê có từ 03 người trở lên (tuỳ theo quy mô dự án để thành lập một hoặc nhiều Tổ) do lãnh đạo Tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng làm Tổ trưởng và thành phần mời tham gia gồm đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ thôn (buôn, khu phố), đại diện chủ đầu tư, đại diện các hộ dân nơi có đất bị thu hồi và một số thành viên khác. Tổ làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức công bố thu hồi đất như sau:
a) Công bố kế hoạch thu hồi đất trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
b) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn đo đạc (đối với khu vực thu hồi đất phải đo mới hoặc đo chỉnh lý bản đồ địa chính) tổ chức hội nghị công bố kế hoạch thu hồi đất cho các đối tượng bị thu hồi đất. Nội dung chủ yếu gồm:
- Công bố kế hoạch thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.
- Công bố kế hoạch chi tiết của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện kế hoạch thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.
- Gửi thông báo thu hồi đất đến từng người có đất thu hồi, người có tài sản bị ảnh hưởng. Trường hợp người có đất thu hồi, người có tài sản bị ảnh hưởng vắng mặt thì giao trưởng thôn (buôn, khu phố) gửi thông báo thu hồi đất đến từng người trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức hội nghị, nếu không gửi được thì báo cho lãnh đạo Tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng để có biện pháp giải quyết.
2. Tổ chức kiểm kê:
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn đo đạc (đối với khu vực thu hồi đất phải trích đo địa chính hoặc đo chỉnh lý bản đồ địa chính) thực hiện điều tra, khảo sát, đo đạc xác định cụ thể diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc đất thu hồi, đối tượng thu hồi đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và các nội dung khác theo nội dung biên bản kiểm kê (mẫu số 01/PABTHT) kèm theo Quy định này để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp cần thiết Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức ghi hình thực địa.
b) Trường hợp người sử dụng đất, người có tài sản trong khu vực có đất thu hồi sau 2 lần thông báo có mặt để kiểm kê nhưng vẫn vắng mặt thì Tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng chỉ đạo Tổ kiểm kê mời đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các hội đoàn thể cấp xã, cán bộ địa chính, tư pháp, công an cấp xã lập biên bản kiểm kê vắng mặt. Tổ kiểm kê thực hiện kiểm kê theo quy định.
c) Trường hợp người sử dụng đất, người có tài sản trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện nội dung quy định tại Điểm a khoản này thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc, quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện theo quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 69, Điều 70 của Luật Đất đai.
d) Biên bản kiểm kê được lập tại thực địa, người có đất và tài sản ký, ghi rõ họ tên và trang cuối, ký tắt vào các trang còn lại của Biên bản, các thành viên Tổ kiểm kê ký, ghi rõ họ tên vào trang cuối của Biên bản kiểm kê. Biên bản kiểm kê phải được ghi đầy đủ các thông tin, dòng nào trống thì gạch chéo. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thường trú tại địa phương khác thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải lấy thêm xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú về các thông tin tại Mục I của mẫu số 01/PABTHT.
đ) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn đo đạc (đối với khu vực thu hồi đất phải trích đo địa chính hoặc đo chỉnh lý bản đồ địa chính), cơ quan trích lục bản đồ địa chính (đối với trường hợp trích lục bản đồ địa chính) khu vực thu hồi đất thông qua từng biên bản kiểm kê để xác định tính chính xác về các thông tin ghi trong Biên bản kiểm kê theo quy định sau:
- Trường hợp xác nhận các thông tin ghi trong biên bản kiểm kê là đầy đủ, chính xác thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận, ký tên, đóng đấu vào biên bản kiểm kê.
- Trường hợp xét thấy các thông tin ghi trong biên bản kiểm kê chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác thì Ủy ban nhân dân cấp xã mời thêm các thành viên Hội đồng xét cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất và chủ tài sản cùng dự họp xét. Đồng thời lập thành biên bản bổ sung, điều chỉnh biên bản kiểm kê; trong đó ghi rõ những nội dung bổ sung, những nội dung điều chỉnh; chủ sở tài sản, đại diện Tổ kiểm kê ký, ghi rõ họ tên, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận, ký tên, đóng đấu vào biên bản bổ sung, điều chỉnh biên bản kiểm kê; số thứ tự lấy theo số thứ tự của biên bản kiểm kê và ghi thêm ký tự b, c, d (tùy theo số lần bổ sung, điều chỉnh).
- Trường hợp do tính phức tạp về đất đai, tài sản mà Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và Ủy ban nhân dân cấp xã không xác định được các thông tin về đất, về tài sản của người bị ảnh hưởng thì giải quyết như sau:
+ Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổng hợp, báo cáo (bằng văn bản) đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì họp, xem xét, giải quyết đối với đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.
+ Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tham mưu bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi Sở Tài nguyên và Môi trường đối với đất đai của tổ chức, doanh nghiệp, gửi Sở Xây dựng đối với nhà, công trình của tổ chức, doanh nghiệp, gửi Sở Tài chính và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với cây trồng, vật nuôi để được hướng dẫn giải quyết hoặc tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.
3. Tính toán giá trị bồi thường, hỗ trợ cho từng đối tượng bị ảnh hưởng và tổng hợp kết quả tính toán:
a) Trong thời hạn không quá hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành công tác kiểm kê quy định tại khoản 2 Điều này, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ biên bản kiểm kê, biên bản bổ sung, điều chỉnh biên bản kiểm kê (nếu có), hồ sơ pháp lý về đất đai, tài sản và các quy định pháp luật hiện hành có liên quan để tính toán xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ cho từng đối tượng bị ảnh hưởng theo Bảng tính chi tiết tại mẫu số 02/PABTHT, tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Bảng tổng hợp tại mẫu số 03/PABTHT, tổng hợp đất đai bị thu hồi theo Bảng tổng hợp tại mẫu số 04/PABTHT, tổng hợp danh sách các hộ gia đình được tái định cư, được giao đất có thu tiền sử dụng đất, được bồi thường bằng đất nông nghiệp tại mẫu số 05/PABTHT, dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo mẫu số 06/PABTHT kèm theo Quy định này.
b) Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước; Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi thông tin đến cơ quan thuế, trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin cơ quan thuế có tránh nhiệm xác định và gửi kết quả cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Trong quá trình xác định giá trị bồi thường, hỗ trợ nếu gặp khó khăn không xác định được thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; trường hợp không giải quyết được, Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo, đề xuất Sở Tài nguyên và Môi trường đối với bồi thường, hỗ trợ về đất, Sở Xây dựng đối với bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình, mồ mả, Sở Tài chính đối với bồi thường, hỗ trợ cây trồng, vật nuôi để hướng dẫn giải quyết hoặc tham mưu Ủy ban nhân dân Tỉnh xem xét, giải quyết.
4. Lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được quy định cụ thể như sau:
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, gửi Bảng tính chi tiết theo mẫu số 02/PABTHT đến từng người, đồng thời niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi ít nhất là 20 ngày kể từ ngày niêm yết.
b) Việc tổ chức lấy ý kiến hoặc tổ chức đối thoại phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nêu rõ tên người, nội dung từng ý kiến đối với trường hợp không đồng ý hoặc ý kiến khác); phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; nếu ý kiến đúng thì điều chỉnh phương án, nếu ý kiến không đúng thì phải giải thích rõ.
c) Kết thúc niêm yết phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện những người bị thu hồi đất.
d) Trường hợp tất cả các đối tượng bị ảnh hưởng đã góp ý thì kết thúc việc niêm yết mà không phải chờ hết thời hạn 20 ngày.
5. Trình thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trình Phòng Tài nguyên và Môi trường (đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt), trình Sở Tài nguyên và Môi trường (đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt) để thẩm định; số lượng bộ hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, mỗi bộ hồ sơ gồm có:
- Tờ trình đề nghị thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Nội dung Tờ trình theo mẫu số 07/PABTHT kèm theo Quy định này.
- Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Biên bản niêm yết công khai, biên bản kết thúc niêm yết công khai; Bản tổng hợp ý kiến đóng góp, bản báo cáo giải quyết các ý kiến đóng góp.
- Kế hoạch thu hồi đất.
- Bản đồ trích lục địa chính hoặc bản đồ đo chỉnh lý bản đồ địa chính hoặc bản đồ trích đo địa chính khu đất.
- Các văn bản khác có liên quan.
b) Trước khi thực hiện quy định tại Điểm a khoản này, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có thể gửi hồ sơ dự thảo cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường để xem xét; nếu thấy có những nội dung cần sửa đổi, bổ sung thì yêu cầu Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chỉnh sửa, bổ sung trước khi gửi 05 bộ hồ sơ.
6. Thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
a) Nội dung thẩm định:
Trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (đã chỉnh sửa hoàn chỉnh), cơ quan Tài nguyên và Môi trường gửi hồ sơ đến các cơ quan có liên quan, dự thảo Báo cáo kết quả thẩm định, chủ trì, phối hợp với các cơ quan: Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và cơ quan khác có liên quan (nếu có) họp thẩm định; Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo quá trình và kết quả lập phương án, giải trình những nội dung cuộc họp yêu cầu.
Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải điều chỉnh thì trong thời hạn 7 ngày làm việc Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải điều chỉnh, hoàn chỉnh hồ sơ theo kết quả thẩm định gửi cơ quan Tài nguyên và Môi trường; người chủ trì cuộc họp kết luận họp thẩm định lại hoặc không thẩm định lại; cơ quan Tài nguyên và Môi trường hoàn chỉnh báo cáo thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày.
b) Trách nhiệm pháp lý của các cơ quan về kết quả thẩm định:
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chính về giá trị bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, tái định canh.
Các cơ quan thẩm định không chịu trách nhiệm về nội dung biên bản kiểm kê, biên bản bổ sung điều chỉnh biên bản kiểm kê mà có trách nhiệm căn cứ các biên bản kiểm kê, biên bản bổ sung, điều chỉnh biên bản kiểm kê (nếu có), bản tính giá trị bồi thường, hỗ trợ trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và căn cứ các quy định pháp luật hiện hành để rà soát, xác định tính đúng đắn về các nội dung được bồi thường, hỗ trợ và giá trị được bồi thường, hỗ trợ của các đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cùng liên dới chịu trách nhiệm theo nhiệm vụ của từng ngành.
7. Trình phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, hồ sơ gồm có:
- Tờ trình đề nghị phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo mẫu số 08/PABTHT kèm theo Quy định này, Báo cáo kết quả thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo mẫu số 09/PABTHT của cơ quan Tài nguyên và Môi trường.
- Tờ trình đề nghị thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
8. Thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong cùng một ngày theo quy định sau:
a) Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp UBND Tỉnh quyết định thu hồi.
b) Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi.
c) Cơ quan có thẩm quyền chỉ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi có nguồn kinh phí để chi trả.
9. Niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
a) Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và địa điểm sinh hoạt khu dân cư nơi có đất bị thu hồi;
b) Trong thời hạn không quá mười ngày (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận được phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được phê duyệt, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tham mưu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và gửi quyết định cho từng đối tượng được bồi thường, hỗ trợ; trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; trường hợp người được bồi thường không có mặt tại địa phương thì thông báo cho họ biết;
c) Đối với những trường hợp có mức bồi thường, hỗ trợ trong quyết định chi trả tiền khác với mức bồi thường, hỗ trợ trong phương án bồi thường, hỗ trợ đã niêm yết công khai khi lấy ý kiến góp ý thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải giải thích rõ lý do cho người được bồi thường, hỗ trợ biết trước hoặc cùng lúc gửi quyết định chi trả tiền.
10. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
a) Trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Chủ đầu tư (đối với trường hợp ứng kinh phí của chủ đầu tư), cơ quan quản lý Quỹ phát triển đất (đối với trường hợp sử dụng kinh phí từ quỹ phát triển đất) chuyển kinh phí cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
b) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Chủ đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp xã chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Việc chi trả tiền lập thành văn bản có chữ ký của người nhận tiền. Trường hợp người được bồi thường, hỗ trợ ủy quyền cho người khác nhận thay thì người được bồi thường, hỗ trợ phải làm giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật.
c) Trường hợp hết thời hạn chi trả tiền ghi trong quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ mà người được bồi thường, hỗ trợ không đến nhận tiền hoặc các trường hợp đang giải quyết tranh chấp chưa xác định được đối tượng bồi thường, hỗ trợ thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi số tiền bồi thường, hỗ trợ vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc Nhà nước, khi người được bồi thường, hỗ trợ đồng ý nhận hoặc đã có kết quả giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật thì rút ra chi trả.
d) Trong thời hạn hai mươi (20) ngày làm việc kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt, người được bồi thường, hỗ trợ phải bàn giao mặt bằng cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để bàn giao cho chủ đầu tư.
đ) Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Quy định này.
e) Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Luật Đất đai. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi thông tin đến cơ quan thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm xác định và gửi kết quả mức tiền chậm chi trả cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
11. Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, ngoài phần diện tích được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất hoặc cho thuê đất, nếu dự án đầu tư cần có mặt bằng để thi công công trình thì Chủ đầu tư hoặc Đơn vị thi công công trình phải thỏa thuận với người sử dụng đất để mượn đất hoặc thuê đất. Trường hợp thuê đất thì tiền thuê đất được xác định theo nguyên tắc lợi nhuận tạo ra trên diện tích thuê trong thời gian thuê và giá trị tài sản trên diện tích thuê bị thiệt hại. Tiền thuê đất được tính vào kinh phí đầu tư của dự án, nếu người thuê đất và người sử dụng đất không thỏa thuận được tiền thuê đất thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xác định mức thuê trình Cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi đất để xem xét, quyết định mức thuê theo nguyên tắc quy định tại khoản này và phù hợp với thực tế.