Điều 22. Kiểm tra hệ thống đo đếm điện năng
Kiểm tra hệ thống đo đếm điện năng (công tơ, máy biến dòng điện đo lường, máy biến điện áp đo lường, sơ đồ đấu dây) được thực hiện theo quy định sau:
1- Trường hợp phát hiện bên mua hoặc bên bán điện có hành vi làm hư hỏng hoặc sai lệch hệ thống đo đếm điện năng, bên kiểm tra phải ghi rõ hành vi vi phạm và kết luận trong biên bản kiểm tra.
2- Nếu hệ thống đo đếm điện năng bị hư hỏng hoặc có nghi ngờ hoạt động khác thường, bên kiểm tra thấy cần tháo thiết bị đo đếm điện năng về để kiểm tra thì việc tháo gỡ thiết bị đo đếm điện năng phải thực hiện đúng quy định dưới đây:
a) Thông báo cho bên bán điện yêu cầu của bên kiểm tra cần tháo gỡ hệ thống đo đếm điện năng để bên bán điện biết và cử người thực hiện;
b) Biên bản kiểm tra phải mô tả chi tiết hiện trạng, biểu hiện khác thường của hệ thống đo đếm điện năng và lý do tháo hệ thống đo đếm điện năng;
c) Thiết bị đo đếm điện năng, chì niêm phong thu được phải giữ nguyên, bao gói và niêm phong (giấy niêm phong có chữ ký của bên kiểm tra và các bên mua, bán điện). Bên kiểm tra phải giao biên bản tháo lắp công tơ và thiết bị đo đếm điện năng cho đại diện của bên được kiểm tra, trong biên bản kiểm tra phải hẹn ngày giờ, địa điểm để các bên cùng đến chứng kiến việc kiểm tra xác minh.
3- Khi kiểm định xác minh thiết bị đo đếm điện năng phải có sự chứng kiến của bên được kiểm tra và phải lập biên bản kiểm định hệ thống đo đếm điện năng.
4- Trường hợp phải cắt chì niêm phong, nhất thiết phải lập biên bản có chứng kiến của bên mua, bán điện. Nếu bên được kiểm tra chưa đồng ý với kết luận kiểm định thì phải niêm phong thiết bị đo đếm (giấy niêm phong có chữ ký của bên kiểm tra và bên mua, bán điện) trước khi chuyển tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định.
5- Cách xác định sản lượng điện năng trong trường hợp công tơ bị mất, hoạt động không chính xác hoặc ngừng hoạt động được thực hiện theo quy định tại Điều 40 Nghị định 45/2001/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động điện lực và sử dụng điện.