vanban.org

Điều 48. Thực hiện công khai hóa, dân chủ hóa trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư — Quyết định 39/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 10/01/2010 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 66/2009/QĐ-UBND · 31/12/2009 Thay thế: 36/2009/QĐ-UBND · 20/07/2009
Quảng Ngãi Ban hành 31/12/2007 Hiệu lực 01/01/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 36/2009/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 36/2009/QĐ-UBND
Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 39/2007/QĐ-UBND
Quyết định số 73/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 73/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 39/2007/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 48
Đọc toàn văn

Điều 48. Thực hiện công khai hóa, dân chủ hóa trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1. Các ngành, các cấp tổ chức học tập quán triệt và tuyên tuyền rộng rãi trong cán bộ, công chức và nhân dân các quy định của Nhà nước về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, giúp mọi người nhận thức và thực hiện đúng đắn chủ trương của Đảng và Nhà nước về quy chế dân chủ. Các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn phải đưa nội dung về dân chủ trong quản lý đầu tư và xây dựng vào kế hoạch thực hiện dân chủ ở cơ sở hàng tháng, quý và năm của địa phương.

2. Trước khi triển khai các dự án đầu tư mới, nâng cấp mở rộng cơ sở hạ tầng, phải tiến hành họp nhân dân theo quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở để làm cho nhân dân thấy rõ được ý nghĩa, lợi ích của việc thực hiện dự án (thông qua việc phát phiếu trưng cầu ý kiến).

3. Khi có chủ trương đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền, người sử dụng đất (chủ dự án hoặc chủ đầu tư) phối hợp với Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và UBND xã, phường, thị trấn tổ chức thông báo rộng rãi cho người bị thu hồi đất biết về chủ trương, nguyên tắc, trình tự thủ tục, mức giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với dự án.

4. Trong quá trình đo đạc, kiểm kê phải được sự tham gia của đại diện chính quyền địa phương cấp xã (thôn hoặc tổ dân phố) và được chủ hộ ký thống nhất số liệu đo đạc, kiểm kê. Trường hợp người bị thu hồi đất không tham gia kiểm kê và không xác nhận vào biên bản kiểm kê mà không có lý do chính đáng thì Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp với chính quyền địa phương lập biên bản để làm cơ sở giải quyết các vấn đề liên quan sau này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp pháp của số liệu đã đo đạc, kiểm kê để đưa vào phương án bồi thường.

5. Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải thực hiện việc niêm yết công khai phương án cụ thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồng thời phân tích cho người bị thu hồi đất thấy được những lợi ích thụ hưởng từ các dự án đầu tư mang lại như: giá trị nhà đất sẽ tăng lên, đường phố được mở rộng thông thoáng, khang trang... để nhân dân thông suốt thực hiện giải toả.

Những vướng mắc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân, các cấp, các ngành phải xem xét cụ thể để xử lý hợp tình, hợp lý từ cơ sở, kết hợp với tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", thể hiện rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân đối với công trình đó.

Các cuộc họp với nhân dân phải được lập biên bản, có xác nhận của đại diện tất cả các hộ dân, tổ chức, lưu trữ và gửi đến các cơ quan có liên quan. UBND huyện, thành phố; xã, phường, thị trấn và các cơ quan chức năng có trách nhiệm nghiên cứu, trả lời các ý kiến đóng góp và các kiến nghị của nhân dân theo đúng thẩm quyền; nếu vượt quá thẩm quyền thì báo cáo cơ quan cấp trên xem xét, quyết định.

6. Chủ tịch UBND huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn tại khu vực giải tỏa chịu trách nhiệm chính trong việc vận động, thuyết phục nhân dân. Đối với những hộ dân trong diện giải tỏa sau khi đã được giải thích rõ chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án nhưng cương quyết không chịu ký biên bản kiểm kê, giải tỏa, di chuyển thì phải làm rõ nguyên nhân, đối tượng nào trong hộ đó không chấp nhận, cần tiến hành các biện pháp xử lý cụ thể; đồng thời các Hội, đoàn thể có trách nhiệm liên quan với từng đối tượng tiếp tục vận động, thuyết phục. Trường hợp bắt buộc phải cưỡng chế theo quy định thì ngoài sự tham gia trực tiếp của các cơ quan chức năng còn phải huy động các lực lượng liên quan với đối tượng không chấp nhận giải tỏa, di chuyển cùng tham gia cưỡng chế. Trước khi cưỡng chế, UBND cấp huyện, thành phố; UBND xã, phường, thị trấn và tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải thực hiện theo đúng trình tự quy định tại Điều 50 của Quy định này.

7. Cán bộ công chức trực tiếp làm công tác bồi thường, khi làm việc phải đeo thẻ công chức; đối với công chức trong diện hợp đồng phải đeo bảng tên. Giải thích cho nhân dân theo nguyên tắc: đúng với chế độ chính sách của dự án đang thực hiện. Số liệu kiểm kê phải đúng với thực tế. Việc áp giá bồi thường, hỗ trợ phải theo đúng với chính sách hiện hành của tỉnh.