Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bồi thường bằng tiền tính theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Quy định này.
2. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất thấp hơn giá đất bị thu hồi thì ngoài việc được giao đất mới người bị thu hồi đất còn được bồi thường bằng tiền phần giá trị chênh lệch; trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới có giá đất cao hơn giá đất bị thu hồi thì được bồi thường bằng việc giao đất mới với diện tích tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất của đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế quỹ đất tại địa phương.
3. Trường hợp diện tích thu hồi lớn hơn diện tích đất được giao mới thì được bồi thường bằng tiền cho phần diện tích chênh lệch đó.
4. Giá đất bồi thường được quy định theo vị trí đất của 3 loại xã theo địa giới hành chính: đồng bằng, trung du, miền núi do cơ quan có thẩm quyền xác định.
5. Trường hợp người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, nếu được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp, không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 7 của Quy định này và thời gian sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, nhưng diện tích được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai.
6. Trường hợp trên một thửa đất có sự chênh lệch về diện tích giữa bản đồ địa chính với diện tích đất ghi trên giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất thì được tính bồi thường như sau:
a. Nếu diện tích đo đạc thực tế lớn hơn diện tích ghi trên giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất thì diện tích bồi thường, hỗ trợ là diện tích đo đạc thực tế. Riêng đối với phần diện tích tăng thêm nếu được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp, không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 7 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh và sử dụng trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường theo cùng vị trí của thửa đất đó nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai.
b. Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất thì diện tích bồi thường, hỗ trợ là diện tích đo đạc thực tế
7. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau:
a. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường;
b. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này thì không được bồi thường đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
8. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định; nếu trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có nguồn sống chính là nông nghiệp thì UBND huyện, thành phố nơi có đất bị thu hồi xem xét để giao đất mới phù hợp với điều kiện của địa phương. Trường hợp không còn quỹ đất để giao thì được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 29 của Quy định này.
9. Đất công ích của xã, phường, thị trấn, đất vượt hạn mức mà không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều này thì hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này. Trường hợp không xác định được chi phí đầu tư vào đất còn lại thì tính bằng 30% giá trị bồi thường đất.
10. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không được bồi thường thiệt hại về đất, nhưng được hỗ trợ theo quy định sau:
a. Hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền với mức bằng 70% giá trị bồi thường đất theo diện tích thực tế nhận khoán bị thu hồi, nhưng tối đa không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai.
b. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại điểm a khoản này và phần diện tích nhận khoán bị thu hồi vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương của hộ gia đình, cá nhân được quy định tại điểm a khoản này thì chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này. Trường hợp không xác định được chi phí đầu tư vào đất còn lại thì tính bằng 30% giá trị bồi thường đất.
c. Đất nông nghiệp sử dụng chung cho nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi không được bồi thường đất, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Quy định này.
11. Hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư và đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư:
11.1. Nguyên tắc xác định:
a1. Diện tích được tính hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở, đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư thuộc phạm vi các khu vực sau:
- Trong phạm vi địa giới hành chính phường;
- Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn mà ranh giới khu dân cư đã được thể hiện trên bản đồ quy hoạch khu dân cư nông thôn hoặc đã được thể hiện trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn mà chưa có quy hoạch khu dân cư, quy hoạch sử dụng đất chi tiết của xã, thị trấn được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư
a1. Đối với đất nông nghiệp; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở nhưng không được công nhận là đất ở, đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư thuộc phạm vi các khu vực sau:
- Trong phạm vi địa giới hành chính phường;
- Trong phạm vi khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn đã được xác định ranh giới theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; trường hợp khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn chưa có quy hoạch được xét duyệt thì xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của khu dân cư.
a2. Đối với đất vườn, ao thực tế đang sử dụng trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ, nhà ở dọc kênh mương, nhà ở dọc tuyến đường giao thông không thuộc các khu vực quy định tại điểm a1 khoản này thì diện tích đất để tính hỗ trợ của mỗi thửa đất bị thu hồi (sau khi trừ diện tích bồi thường đất ở) được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hoặc tại thời điểm lập phương án bồi thường, nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
a3. Đối với diện tích đất thuộc thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới các khu vực quy định tại điểm a1 khoản này thì diện tích đất để tính hỗ trợ của mỗi thửa đất bị thu hồi được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hoặc tại thời điểm lập phương án bồi thường, nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
b1. Điều kiện để tính hỗ trợ phải đồng thời thỏa mãn 2 điều kiện sau:
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là đất sử dụng hợp pháp được bồi thường theo quy định;
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là loại đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất rừng sản xuất của hộ gia đình, cá nhân
b1. Điều kiện để tính hỗ trợ phải đồng thời thỏa mãn 2 điều kiện sau:
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là đất sử dụng hợp pháp được bồi thường theo quy định;
- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi là loại đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản của hộ gia đình, cá nhân.
b2. Diện tích đất để tính hỗ trợ của mỗi thửa đất bị thu hồi được xác định bằng 5 (năm) lần hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hoặc tại thời điểm lập phương án bồi thường (đối với dự án được chia làm nhiều phương án bồi thường) nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi của từng thửa đất.
11.2. Mức hỗ trợ:
- Ngoài việc bồi thường đất nông nghiệp theo quy định, còn được hỗ trợ một khoản tiền bằng 30% (ở đô thị), 40% (ở nông thôn) và 20% (ở vùng quy hoạch đô thị Vạn Tường) giá đất ở thấp nhất của xã, phường, thị trấn theo bảng giá đất ở do UBND tỉnh quy định. Riêng đối với đất rừng sản xuất trong đô thị Vạn Tường thuộc Khu kinh tế Dung Quất và đất rừng sản xuất không đủ điều kiện là đất nông nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư theo quy định thì được hỗ trợ một khoản tiền bằng 20% giá đất ở thấp nhất của xã, thị trấn. Tổng mức bồi thường, hỗ trợ (không bao gồm hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề) tối đa một mét vuông đất nông nghiệp không được cao hơn giá đất ở thấp nhất của xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.
- Đối với đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư (thửa đất có ít nhất một mặt tiếp giáp với đất ở trong khu dân cư), ngoài việc bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ một khoản tiền bằng 50% giá đất ở liền kề của thửa đất vườn, ao đó (giá đất ở không nhân hệ số hai mặt tiền và chiều rộng mặt tiền theo quy định), nhưng tổng mức bồi thường, hỗ trợ (không bao gồm hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề) tối đa một mét vuông đất vườn, ao không được cao hơn giá đất ở tại vị trí của thửa đất vườn, ao đó.
- Đối với đất ở có vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở mà diện tích đất vườn, ao đó không được xác định lại là đất ở hoặc không đủ điều kiện được công nhận là đất ở thì ngoài việc bồi thường theo mục đích sử dụng đất nông nghiệp, còn được hỗ trợ một khoản tiền bằng 50% giá đất ở tương ứng của thửa đất đó (giá đất ở không nhân hệ số hai mặt tiền và chiều rộng mặt tiền theo quy định), nhưng tổng mức bồi thường, hỗ trợ (không bao gồm hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề) tối đa một mét vuông đất vườn, ao không được cao hơn giá đất ở tương ứng của thửa đất đó
11.3. UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi có trách nhiệm xác định đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư theo quy định tại điểm 11.1 khoản này để làm cơ sở cho Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập phương án bồi thường, hỗ trợ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định và chịu trách nhiệm về việc xác định đó.
12. Đối với đất nuôi trồng thuỷ sản tự nhiên được bồi thường theo giá đất nuôi trồng thuỷ sản do UBND tỉnh quy định. Trường hợp có thực hiện việc đào, đắp thành công trình để nuôi trồng thuỷ sản thì được tính bồi thường thêm khối lượng thực tế đã đào hoặc khối lượng thực tế đã đắp
13. Đối với đất nông nghiệp sau khi thu hồi mà diện tích hợp pháp của thửa đất đó còn lại nhỏ hơn hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 4 Quyết định số 22/2009/QĐ-UBND ngày 24/4/2009 của UBND tỉnh hoặc diện tích của thửa đất đó còn lại lớn hơn hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 4 Quyết định số 22/2009/QĐ-UBND ngày 24/4/2009 của UBND tỉnh nhưng không còn khả năng canh tác do ảnh hưởng của dự án gây ra mà người sử dụng đất có yêu cầu bồi thường và được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận thì thực hiện việc bồi thường và quản lý quỹ đất sau khi bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Quyết định số 22/2009/QĐ-UBND ngày 24/4/2009 của UBND