vanban.org

Điều 29. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm — Quyết định 39/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/07/2009 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 10/01/2010 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 66/2009/QĐ-UBND · 31/12/2009 Thay thế: 36/2009/QĐ-UBND · 20/07/2009
Quảng Ngãi Ban hành 31/12/2007 Hiệu lực 01/01/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 36/2009/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 36/2009/QĐ-UBND
Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 39/2007/QĐ-UBND
Quyết định số 73/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 73/2006/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 39/2007/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 29
Đọc toàn văn

Điều 29. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp (kể cả đất vườn không đủ điều kiện công nhận là đất ở) tương ứng thì được bồi thường đất bằng tiền, ngoài ra còn được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề theo quy định sau:

1. Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng tiền, với mức hỗ trợ cụ thể như sau:

1.1. Đối với hộ gia đình có từ bốn (04) nhân khẩu trở xuống:

- Đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối thuộc các xã đồng bằng và hải đảo là 10.000 đồng/m2 nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 25 triệu đồng/hộ.

- Đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản thuộc các xã miền núi là 8.000 đồng/m2 nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 25 triệu đồng/hộ.

- Đối với đất rừng sản xuất thì mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là 4.000 đồng/m2 nhưng mức hỗ trợ tối đa không quá 25 triệu đồng/hộ.

Một hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà khi bị Nhà nước thu hồi nhiều loại đất nông nghiệp khác nhau hoặc một hay nhiều loại đất nông nghiệp khác nhau cho nhiều dự án khác nhau thì mức hỗ trợ tối đa không quá 35 triệu đồng/hộ.

1.2. Đối với hộ gia đình có từ năm (05) đến bảy (07) nhân khẩu:

Tính hỗ trợ như quy định tại điểm 1.1 khoản này, nhưng mức hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề tối đa không quá 35 triệu đồng/hộ (đối với một loại đất nông nghiệp) và tối đa không quá 45 triệu đồng/hộ (đối với nhiều loại đất nông nghiệp).

1.3. Đối với hộ gia đình có từ 08 (tám) nhân khẩu trở lên:

Tính hỗ trợ như quy định tại điểm 1.1 khoản này, nhưng mức hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề tối đa không quá 45 triệu đồng/hộ (đối với một loại đất nông nghiệp) và tối đa không quá 60 triệu đồng/hộ (đối với nhiều loại đất nông nghiệp).

1.4. Đối với các trường hợp có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn hơn diện tích đất nông nghiệp tính hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề với mức tối đa theo quy định tại điểm 1.1, điểm 1.2 và điểm 1.3 khoản này, thì phần diện tích tăng lên được tính hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng 70% đơn giá hỗ trợ theo quy định tại điểm 1.1 khoản 1 điều này, nhưng tổng diện tích được tính hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai.

2. Trường hợp thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao và diện tích đất thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng 300m2 (đối với đô thị và huyện Lý Sơn), 500m2 (đối với các xã đồng bằng), 1.000m2 (đối với các xã miền núi) mà hộ gia đình, cá nhân không thực hiện việc hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng tiền theo quy định tại khoản 1 Điều này thì được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề theo quy định sau:

2.1. Đào tạo chuyển đổi ngành nghề tại các cơ sở dạy nghề trong tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể như sau:

a. Đối tượng đào tạo: Những thành viên trong hộ gia đình còn trong độ tuổi lao động phải chuyển đổi ngành nghề.

b. Ngành nghề đạo tạo: Do hộ gia đình, cá nhân có đủ điều kiện được đào tạo chuyển đổi ngành nghề tự chọn nhưng phải phù hợp với điều kiện xét tuyển thẳng vào đào tạo theo quy định của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh và hộ gia đình, cá nhân phải có đơn đăng ký ngành nghề đào tạo gửi cho Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

c. Nguồn kinh phí: Sử dụng từ nguồn kinh phí hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề của hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này để chi trả cho các cơ sở dạy nghề trong tỉnh với thời gian tối đa không quá 12 tháng (bao gồm các khoản chi phí cơ bản sau: học phí, tiền ăn, tiền nội trú, hỗ trợ chi phí đi lại và chi phí khác liên quan trực tiếp đến đào tạo nghề). Trường hợp kinh phí hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề của hộ gia đình, cá nhân không đủ để chi trả cho cơ sở dạy nghề thì chủ đầu tư dự án hỗ trợ phần chênh lệch đó và mức hỗ trợ được đưa vào phương án bồi thường để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu kinh phí hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề của hộ gia đình, cá nhân lớn hơn chi phí chi trả cho cơ sở dạy nghề thì hộ gia đình, cá nhân được nhận phần chênh lệch đó.

d. Trách nhiệm đối với các cơ sở dạy nghề trong tỉnh: Nếu đủ điều kiện thì tuyển thẳng vào đào tạo.

e. Trách nhiệm của Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:

- Làm việc trực tiếp với các cơ sở dạy nghề trong tỉnh để xác định kinh phí đào tạo cho mỗi đối tượng được đào tạo và ký hợp đồng với cơ sở đào tạo;

- Thanh toán kinh phí theo hợp đồng cho các cơ sở đào tạo và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc thanh toán đó.

f. Trách nhiệm của tổ chức sử dụng đất:

- Thông báo cụ thể ngành nghề cần tuyển dụng, điều kiện tuyển dụng;

- Phải ưu tiên tiếp nhận các đối tượng lao động thuộc trường hợp bị thu hồi đất nông nghiệp phải chuyển đổi ngành nghề vào làm việc tại nhà máy (tối thiểu là 60% lao động phổ thông của một dự án).

2.2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu chuyển đổi ngành nghề theo quy định tại điểm 2.1 khoản này và yêu cầu Nhà nước giao đất để làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp mà tại địa phương nơi có đất bị thu hồi có quỹ đất để làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp; diện tích đất được giao căn cứ vào khả năng quỹ đất của địa phương và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân để đề nghị cho phù hợp và theo nguyên tắc: thu hồi 100m2 đất nông nghiệp thì được giao 10m2 đất sản xuất kinh doanh nhưng tối thiểu không thấp hơn 50m2, tối đa không quá 150m2 (đối với đô thị và huyện Lý Sơn), tối thiểu 100m2, tối đa 300m2 (đối với các xã đồng bằng), tối thiểu 150m2, tối đa 500m2 (đối với các xã miền núi). Giá đất để thu tiền sử dụng đất tại vị trí được giao là giá đất sản xuất kinh doanh (hoặc giá đất sản xuất kinh doanh có vị trí tương đương vị trí đất sản xuất kinh doanh được giao) do UBND tỉnh quy định. Việc xác định diện tích đất để giao làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp cho từng trường hợp cụ thể do Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp với chính quyền địa phương và chủ đầu tư xác định để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường xem xét, quyết định.

2.3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu chuyển đổi ngành nghề theo quy định tại điểm 2.2 khoản này và yêu cầu Nhà nước bồi thường bằng đất ở mà tại địa phương nơi có đất bị thu hồi có quỹ đất ở thì được giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch; diện tích đất ở được giao căn cứ vào khả năng quỹ đất của địa phương và diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân để đề nghị cho phù hợp và theo nguyên tắc: thu hồi 100m2 đất nông nghiệp thì được giao 5m2 đất ở nhưng tối thiểu không thấp hơn 100m2, tối đa không quá 150m2 (đối với đô thị và huyện Lý Sơn), tối thiểu 100m2, tối đa 200m2 (đối với các xã đồng bằng), tối thiểu 100m2, tối đa 300m2 (đối với các xã miền núi). Giá đất để thu tiền sử dụng đất tại vị trí được giao là giá đất ở (hoặc giá đất ở có vị trí tương đương vị trí đất ở được giao) do UBND tỉnh quy định. Việc xác định diện tích đất ở để giao cho từng trường hợp cụ thể do Tổ chức được giao nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp với chính quyền địa phương và chủ đầu tư xác định để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường xem xét, quyết định.

3. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại khoản 8 Điều 10 của Quy định này thì được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề bằng tiền với mức hỗ trợ là 4.000 đồng/m2 cho phần diện tích đất bị thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất sản xuất nông nghiệp tại địa phương