Điều 13. Bồi thường đất phi nông nghiệp là đất ở
1. Đất ở được xác định theo quy định tại Điều 50, Điều 83, Điều 84 và Điều 87 của Luật Đất đai năm 2003, Điều 45, Điều 46, Điều 47, khoản 1 và khoản 3 Điều 48, Điều 79 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường tính thành tiền theo giá đất ở hoặc bồi thường bằng đất (nếu có).
2. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở mà diện tích đất vườn, ao đó không được xác định lại là đất ở hoặc không đủ điều kiện được công nhận là đất ở thì ngoài việc bồi thường theo mục đích sử dụng đất nông nghiệp, còn được hỗ trợ một khoản tiền bằng 50% giá đất ở tương ứng liền kề của thửa đất đó (giá đất ở không nhân hệ số chiều rộng mặt tiền theo quy định).
3. Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi.
Trường hợp đất ở bị thu hồi có giá trị lớn hơn giá trị đất được giao mới, thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền phần chênh lệch đó.
Trường hợp đất ở bị thu hồi có giá đất thấp hơn giá trị đất được giao mới, thì người được giao đất nộp tiền sử dụng đất theo giá đất bị thu hồi.
4. Đối với đất nhà thờ họ tộc, đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường được UBND cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp thì được tính bồi thường theo giá đất ở.
5. Đất vườn, ao được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư và được xác định như sau:
5.1. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 (có giấy tờ hợp pháp chứng minh) và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì toàn bộ diện tích thửa đất đó được xác định là đất ở theo nguyên tắc được quy định tại khoản 4 Điều 6 của Quy định này.
5.2. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 nhưng người sử dụng đất không có giấy tờ hợp pháp chứng minh diện tích đó hình thành (sử dụng) trước ngày 18/12/1980 và thực tế người sử dụng đất đã kê khai đăng ký có tên trong sổ địa chính theo Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ là đất thổ cư (T), thì phải có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ít nhất 03 ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (xóm, thôn, tổ dân phố) nơi có đất và UBND cấp xã phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về thời gian sử dụng đất là trước ngày 18/12/1980, đất đó không có tranh chấp thì diện tích đất ở được xác định bằng ba (03) lần hạn mức công nhận đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi. Trường hợp tại thời điểm triển khai đăng ký theo Chỉ thị 299/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhưng chính quyền địa phương không thực hiện vì một lý do nào đó thì phải có văn bản giải trình cụ thể của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi được UBND huyện, thành phố thống nhất đề nghị để trình UBND tỉnh xem xét, quyết định cho từng trường hợp cụ thể.
Việc xác nhận nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất được thực hiện theo biểu mẫu quy định tại Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/7/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
5.3. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được sử dụng trước ngày 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 chưa xác định ranh giới thửa đất thì diện tích đất ở được xác định bằng 04 (bốn) lần hạn mức giao đất ở mới theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi.
5.4. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành) và người sử dụng đất có một trong các loại giấy về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo từng thời điểm sử dụng đất, cụ thể như sau:
a. Thời điểm sử dụng đất từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993:
a1. Diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh thì toàn bộ diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất đó được xác định là đất ở.
a2. Diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất ở có vườn, ao lớn hơn hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh thì diện tích đất ở được xác định như sau:
- Đối với hộ gia đình có từ 04 nhân khẩu trở xuống thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi;
- Đối với hộ gia đình có từ 05 nhân khẩu đến 07 nhân khẩu (phải cư trú thường xuyên tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận) thì diện tích đất ở được xác định bằng 1,5 lần hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi;
- Đối với hộ gia đình có từ 08 nhân khẩu trở lên (phải cư trú thường xuyên tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận) thì diện tích đất ở được xác định bằng 2 lần hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi.
b. Thời điểm sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì diện tích đất ở được xác định tối đa bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất sử dụng hợp pháp bị thu hồi
5.5. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành) và người sử dụng đất có một trong các loại giấy về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp diện tích đất ở ghi trên giấy tờ hợp pháp nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở hoặc nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh thì diện tích đất ở được xác định lại theo từng thời điểm sử dụng đất, cụ thể như sau:
a. Thời điểm sử dụng đất từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 15/10/1993:
a1. Diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh thì toàn bộ diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất đó được xác định là đất ở.
a2. Diện tích sử dụng hợp pháp của thửa đất ở có vườn, ao lớn hơn hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh thì diện tích đất ở được xác định lại như sau:
- Đối với hộ gia đình có từ 04 nhân khẩu trở xuống thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi;
- Đối với hộ gia đình có từ 05 nhân khẩu đến 07 nhân khẩu (phải cư trú thường xuyên tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận) thì diện tích đất ở được xác định bằng 1,5 lần hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi;
- Đối với hộ gia đình có từ 08 nhân khẩu trở lên (phải cư trú thường xuyên tại địa phương được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận) thì diện tích đất ở được xác định bằng 2 lần hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất hợp pháp bị thu hồi.
b. Thời điểm sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì diện tích đất ở được xác định lại tối đa bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh, nhưng không vượt quá diện tích đất sử dụng hợp pháp bị thu hồi
6. Trường hợp thửa đất ở có vườn, ao sử dụng trước ngày 18/12/1980 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ mà thửa đất này được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 thì thửa đất còn lại sau khi đã tách thửa mà được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp cũng được bồi thường, hỗ trợ về đất đối với đất ở theo hạn mức quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.
7. Đối với trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở, không có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, nhưng đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 7 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh, nay được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp thì diện tích bồi thường đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hoặc tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, nhưng không vượt quá diện tích đất sử dụng hợp pháp bị thu hồi; phần diện tích còn lại (nếu có) được căn cứ theo loại đất do UBND xã, phường, thị trấn xác định để làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 10 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh và quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 điều này
8. Đối với trường hợp đất đang sử dụng là đất có nhà ở, không có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, nhưng đất được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 7 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh, nay được UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp thì diện tích bồi thường đất ở được xác định bằng hạn mức giao đất ở theo quy định hiện hành của UBND tỉnh tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hoặc tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, nhưng không vượt quá diện tích đất sử dụng hợp pháp bị thu hồi; phần diện tích còn lại (nếu có) được căn cứ theo loại đất do UBND xã, phường, thị trấn xác định để làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 10 Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh và quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 điều này