vanban.org

Điều 53. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư — Quyết định 24/2023/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/12/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/12/2024 Thay thế: 99/2024/QĐ-UBND · 19/12/2024
Ninh Thuận Ban hành 07/04/2023 Hiệu lực 17/04/2023 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 5 năm
Quyết định số 99/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 99/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 24/2023/QĐ-UBND
29/12/202499/2024/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 17/04/2023Bản gốcThay thế
Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận · 17/2021/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 24/2023/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 53
Đọc toàn văn

Điều 53. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Nguyên tắc chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện theo quy định tại Điều 93 Luật Đất đai; Điều 30 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ; khoản 7 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP .

2. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

3. Trường hợp Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

4. Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc Nhà nước.

5. Trước khi chi trả tiền bồi thường, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải gửi thông báo nhận tiền đến từng người bị thu hồi đất, kèm theo bảng tính toán giá trị bồi thường của từng người bị thu hồi đất.

6. Thông báo nhận tiền:

a) Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi thông báo nhận tiền cho người bị thu hồi đất, ghi rõ thời gian có mặt để nhận tiền và mang theo các loại giấy tờ như chứng minh nhân dân, căn cước công dân, giấy tờ về nhà đất,…để đối chiếu. Thông báo được lập 03 bản; Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng giữ 01 bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người bị thu hồi đất.

b) Thông báo nhận tiền gửi cho người bị thu hồi đất phải có ký nhận, ngày nhận của người bị thu hồi đất hoặc người đồng sở hữu.

c) Nếu lần 1 người bị thu hồi đất không đến nhận tiền thì thông báo nhận tiền được gửi cho người bị thu hồi đất thêm 2 lần, mỗi lần gửi cách nhau 10 (mười) ngày và vào sổ lưu như lần 1.

d) Trường hợp người bị thu hồi đất đi vắng hoặc không xác định được địa chỉ thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải thông báo trên các phương tiện truyền thông liên tiếp 3 kỳ trong vòng 30 (ba mươi) ngày (Đài Truyền thanh huyện, truyền thanh của cấp xã).

Nếu sau 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày đăng thông báo mà người bị thu hồi đất không đến nhận thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập biên bản xác nhận và nộp số tiền bồi thường, hỗ trợ vào Kho bạc Nhà nước để chờ xử lý theo diện vắng chủ.

7. Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường thực hiện như sau:

a) Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn chưa nộp;

b) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Đối với người bị thu hồi đất được ghi nợ hoặc đủ điều kiện ghi nợ tiền sử dụng đất mà số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số tiền được bồi thường, hỗ trợ thì người bị thu hồi đất tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu người bị thu hồi đất (là hộ gia đình, cá nhân) được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì người bị thu hồi đất tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó.

c) Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có). Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp với cơ quan thuế và các tổ chức có liên quan (nếu có) xác định các khoản nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện của người bị thu hồi đất để khấu trừ trước khi chi trả tiền bồi thường.

8. Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch đó;

b) Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 34 Quy định này.

9. Việc ứng vốn để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Quỹ phát triển đất thực hiện ứng vốn cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để giao đất, cho thuê đất thực hiện theo Quy chế về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất;

b) Người được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì được ngân sách Nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp. Mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào vốn đầu tư của dự án.

Trường hợp người được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào vốn đầu tư của dự án.

c) Người được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất mà ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì được tham gia trong quá trình tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

10. Việc chi trả tiền bồi thường do Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp với Chủ đầu tư, Kho bạc Nhà nước để thực hiện.

11. Khi chi trả tiền bồi thường, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) của hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi và chuyển cho Văn phòng Đăng ký đất đai Ninh Thuận và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai các huyện, thành phố để thực hiện chỉnh lý hoặc thu hồi giấy tờ về nhà, đất theo quy định;

Trong thời gian không quá 05 (năm) ngày làm việc, Văn phòng Đăng ký đất đai Ninh Thuận - Chi nhánh cấp huyện chuyển Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chỉnh lý cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng để phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trả cho hộ gia đình, cá nhân trong 03 (ba) ngày làm việc.

12. Trường hợp người có đất bị thu hồi không đồng ý nhận tiền bồi thường thì sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày thông báo chi trả tiền bồi thường lần 3 (ba), tùy theo tình hình thực tế mà Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chuyển gửi số tiền bồi thường vào Kho bạc Nhà nước theo quy định.

13. Những trường hợp đang tranh chấp, vắng chủ, kiểm kê bắt buộc hoặc chủ hộ không ký biên bản kiểm tra hiện trạng thì Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo Thanh tra cấp huyện phối hợp cùng Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và Ủy ban nhân dân cấp xã thẩm tra, xác minh đối tượng và quá trình sử dụng đất để làm cơ sở chi trả bồi thường. Phần tiền bồi thường tạm thời nộp Kho bạc Nhà nước đến khi đã xác định đúng đối tượng hoặc giải quyết xong tranh chấp thì chi trả cho người được quyền thụ hưởng. Nếu sau khi thẩm tra xác minh mà có sự khác biệt về đối tượng được bồi thường, số tiền bồi thường, hỗ trợ so với quyết định đã phê duyệt thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo cấp có thẩm quyền để điều chỉnh quyết định.

14. Cơ quan tài nguyên và môi trường cấp huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện bố trí tái định cư theo phương án được duyệt.