vanban.org

Điều 36. Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất — Quyết định 24/2023/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 29/12/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/12/2024 Thay thế: 99/2024/QĐ-UBND · 19/12/2024
Ninh Thuận Ban hành 07/04/2023 Hiệu lực 17/04/2023 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 5 năm
Quyết định số 99/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 99/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 24/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận · 24/2023/QĐ-UBND
29/12/202499/2024/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 17/04/2023Bản gốcThay thế
Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận · 17/2021/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 24/2023/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 36
Đọc toàn văn

Điều 36. Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Hỗ trợ di chuyển: Người đang sử dụng nhà ở hợp pháp khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ di chuyển. Đối tượng, mức hỗ trợ và điều kiện được hỗ trợ như sau:

a) Đối tượng: Người có nhà ở hợp pháp, người thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và người thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước.

b) Mức hỗ trợ di chuyển chỗ ở trong phạm vi tỉnh cho mỗi hộ bằng 5.000.000 (năm triệu) đồng; di chuyển chỗ ở sang tỉnh khác là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở chỉ được xét hỗ trợ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này khi hợp đồng thuê nhà ở được ký trước thời điểm thông báo thu hồi đất và tại thời điểm thu hồi đất còn thời hạn thuê nhà; người thuê nhà ở thực hiện đăng ký tạm trú trước thời điểm thông báo thu hồi đất theo quy định của pháp luật.

2. Người bị thu hồi đất ở, giải tỏa nhà ở không còn chỗ ở khác, trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới, được bố trí nhà ở tạm không phải trả tiền thuê nhà trong thời hạn không quá 06 (sáu) tháng kể từ ngày được giao đất tái định cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở với mức 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng/một hộ/tháng, thời gian được hỗ trợ: Kể từ ngày bàn giao nhà, đất bị giải tỏa đến ngày được giao đất tái định cư cộng (+) 06 tháng.

Đối với các công trình trọng điểm, cấp bách mà phải thu hồi đất khi chưa được giao đất tái định cư thì người bị thu hồi đất ở, giải tỏa nhà ở, ngoài mức hỗ trợ quy định nói trên được bố trí nhà ở tạm không phải trả tiền thuê nhà hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở với mức 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng/hộ/tháng cho đến khi được Nhà nước giao đất tái định cư.

3. Đối với những hộ bị giải tỏa có nhà bị phá dỡ một phần không phải di dời chỗ ở thì ngoài phần bồi thường diện tích nhà bị phá dỡ còn được hỗ trợ để khắc phục sửa chữa lại nhà ở. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với các Sở, ngành và chính quyền địa phương tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá thực tế của ngôi nhà bị phá dỡ để xác định mức hỗ trợ, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định.

4. Hỗ trợ đối với đất vườn, ao không được công nhận là đất ở và đất nông nghiệp trong khu dân cư như sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở, đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp theo loại đất và vị trí thửa đất thu hồi còn được hỗ trợ bằng 04 lần giá đất nông nghiệp cùng loại và cùng vị trí quy định trong Bảng giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh.

b) Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính xã thuộc thành phố; trong khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp theo loại đất và vị trí thửa đất thu hồi còn được hỗ trợ bằng 03 lần giá đất nông nghiệp cùng loại đất và cùng vị trí quy định trong Bảng giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh.

c) Ranh giới thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư quy định tại điểm b khoản này được xác định tính từ ranh giới phường, ranh giới khu dân cư không quá 50 mét.

5. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT , được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 09/2021/TT- BTNMT bị thu hồi từ 10 % đến dưới 30 % diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất thì được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hỗ trợ bằng 50 % so với hộ bị thu hồi từ 30 % đến 70 % diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng.

6. Người bị thu hồi đất thực hiện bàn giao mặt bằng đúng thời gian quy định (trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày quy định chi trả tiền bồi thường ghi trong thông báo của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt) thì được khen thưởng như sau:

a) Có giá trị bồi thường, hỗ trợ từ 100.000.000 (một trăm triệu) đồng trở lên:

- Thưởng 4.000.000 (bốn triệu) đồng đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng đúng thời gian quy định.

- Thưởng 4.500.000 (bốn triệu năm trăm ngàn) đồng đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng trước ngày quy định trong phạm vi 15 ngày.

- Thưởng 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với trường hợp di chuyển và bàn giao mặt bằng trước ngày quy định từ 16 ngày trở lên.

b) Có giá trị bồi thường, hỗ trợ từ 10.000.000 (mười triệu) đồng đến dưới 100.000.000 (một trăm triệu) đồng: Mức thưởng bằng 75 % mức thưởng quy định tại Điểm a Khoản này.

c) Thời gian tối đa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi tờ trình đến Ủy ban nhân dân cấp huyện đề nghị xét khen thưởng cho từng dự án là 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chi trả xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất. Quá thời hạn nói trên, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chịu trách nhiệm chi trả tiền khen thưởng từ nguồn kinh phí 02 % chi phí tổ chức thực hiện bồi thường của đơn vị cho các hộ bị thu hồi đất đủ điều kiện khen thưởng.

Hồ sơ kèm theo tờ trình đề nghị xét khen thưởng phải có bản cam kết thời hạn bàn giao mặt bằng của các hộ có đất thu hồi (tại thời điểm nhận tiền bồi thường, hỗ trợ) và biên bản bàn giao mặt bằng đất tại thực địa giữa người có đất thu hồi với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và các ngành chức năng liên quan.

Không xét khen thưởng đối với những trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm, xây nhà trên đất lấn, chiếm, đất không đủ điều kiện bồi thường; xây nhà trái phép.

7. Hỗ trợ di chuyển mồ mả:

a) Đối với mộ mai táng dưới 01 năm (theo giấy chứng tử hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi), ngoài số tiền đã được bồi thường còn được hỗ trợ thêm 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng/mộ;

b) Đối với mộ mai táng từ 01 năm đến 02 năm (theo giấy chứng tử hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi), ngoài số tiền đã được bồi thường còn được hỗ trợ thêm 1.000.000 (một triệu) đồng/mộ;

c) Đối với mộ mai táng từ trên 02 năm đến 03 năm (theo giấy chứng tử hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi), ngoài số tiền đã được bồi thường còn được hỗ trợ thêm 500.000 (năm trăm ngàn) đồng/mộ.

d) Đối với mộ phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất về nơi khác theo phong tục tập quán, không phải về nghĩa trang Nhà nước thì ngoài số tiền bồi thường theo quy định, hỗ trợ theo các điểm a, b, c khoản này còn được hỗ trợ chi phí di dời mộ với số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/mộ.

đ) Đối với mộ phải di dời khi Nhà nước thu hồi đất theo phong tục tập quán bỏ mả, không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản này, ngoài số tiền bồi thường theo quy định, hỗ trợ theo các điểm a, b, c khoản này, còn được hỗ trợ thêm chi phí di dời mộ với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng/hộ.

8. Hỗ trợ diện tích đất có nguồn gốc lấn, chiếm:

a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, có nơi thường trú tại tỉnh Ninh Thuận, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, diện tích đất sử dụng bị thu hồi không nằm trong quy hoạch 3 loại rừng, khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ về đất. Diện tích đất được bồi thường, hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 Luật Đất đai.

b) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, có nơi thường trú tại tỉnh Ninh Thuận, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, diện tích đất sử dụng bị thu hồi nằm trong quy hoạch 3 loại rừng, khi Nhà nước thu hồi đất được hỗ trợ về đất; mức hỗ trợ bằng một lần đơn giá đất trong Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định của loại đất bị thu hồi; diện tích đất được hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất bị thu hồi.

c) Hộ gia đình, cá nhân lấn, chiếm đất sau ngày 01 tháng 7 năm 2014 khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường, hỗ trợ.

9. Hỗ trợ đất do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý:

a) Hộ gia đình, cá nhân lấn, chiếm đất sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận có tác động, đang canh tác, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, đã sử dụng ổn định, không tranh chấp được hỗ trợ về đất bằng mức bồi thường, hỗ trợ.

b) Hộ gia đình, cá nhân lấn, chiếm đất sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất không tranh chấp, có tác động sản xuất nông nghiệp nhưng không liên tục được hỗ trợ bằng 01 lần giá đất nông nghiệp trong Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.

10. Hộ gia đình, cá nhân có nơi thường trú tại tỉnh Ninh Thuận được áp dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ theo khoản 1 Điều 101 Luật Đất đai và các khoản bồi thường, hỗ trợ có quy định nơi thường trú.

11. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không có nơi thường trú tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, được hỗ trợ về đất bằng 01 lần giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định đối với loại đất thu hồi. Diện tích đất được hỗ trợ là toàn bộ diện tích đất bị thu hồi.

12. Ngoài việc hỗ trợ quy định tại các Điều 31, 32, 33, 34, 35 và 36 của Quy định này, tùy theo tình hình thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cụ thể của từng dự án, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; chủ đầu tư dự án; các Sở, ngành chức năng.