Điều 46. Kiểm tra tờ khai, điều tra, khảo sát, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất
1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng kiểm tra nội dung kê khai và thông báo bằng văn bản cho người có đất bị thu hồi thời gian kiểm đếm đất đai, tài sản; thông báo được lập 03 bản, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng giữ 01 bản và vào sổ lưu, Ủy ban nhân dân cấp xã giữ 01 bản, 01 bản gửi cho người có đất, tài sản bị thu hồi.
Trường hợp chủ hộ đi vắng hoặc không xác định được địa chỉ thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải thông báo trên phương tiện truyền thông (hệ thống truyền thanh cấp xã, Trung tâm văn hóa thể thao, truyền thanh cấp huyện) liên tiếp 03 kỳ trong vòng 20 (hai mươi) ngày. Nếu sau 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày đăng thông báo mà chủ hộ không đến thì tiến hành lập biên bản kiểm đếm đất đai và tài sản theo diện vắng chủ.
2. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cùng người có đất bị thu hồi tiến hành kiểm đếm đất đai, tài sản và lập biên bản xác nhận.
a) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm;
b) Tham gia buổi kiểm đếm thực địa có thành viên của Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng cùng người có đất bị thu hồi và các thành viên khác, bao gồm:
- Đại diện Ban Quản lý thôn hoặc khu phố;
- Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có dự án hoặc ủy quyền cho cán bộ địa chính;
- Đại diện cho người bị thu hồi đất;
- Đại diện Chủ đầu tư.
3. Biên bản kiểm đếm hiện trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người có đất bị thu hồi phải thể hiện rõ các nội dung:
a) Diện tích đất thu hồi của từng hộ gia đình, cá nhân và tổ chức;
b) Kiểm đếm xác lập đầy đủ số lượng, chất lượng tài sản gắn liền với diện tích đất thu hồi theo hiện trạng đang sử dụng để làm cơ sở cho việc tính toán bồi thường, hỗ trợ;
Đối với nhà cửa, vật kiến trúc phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh là tài sản của tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, có trích khấu hao thì phải đánh giá tỷ lệ giá trị còn lại của tài sản để ghi vào biên bản kiểm kê tài sản;
c) Người bị thu hồi đất không có tài sản gắn liền với đất thì ghi vào biên bản “Không có tài sản gắn liền với đất”;
d) Trường hợp tài sản trên đất không phải là của người bị thu hồi đất thì ghi vào biên bản “Tài sản (của người chủ tài sản) nằm trên đất của (người bị thu hồi đất)” và có xác nhận của người bị thu hồi đất, chữ ký của người chủ tài sản.
4. Quá trình kiểm đếm hiện trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người có đất bị thu hồi, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phải thực hiện việc chụp hình và lưu trữ hình ảnh dưới dạng file mềm để phục vụ công tác giải quyết kiến nghị, thắc mắc của người có đất bị thu hồi.
5. Biên bản kiểm đếm được lập thành 03 bản và phải có chữ ký của các thành viên tham gia buổi kiểm đếm và chữ ký (hoặc điểm chỉ) của người bị thu hồi đất.
Biên bản kiểm đếm được giao cho người bị thu hồi đất, chủ sở hữu tài sản 01 bản ngay sau kết thúc buổi kiểm đếm. Riêng 02 biên bản còn lại được chuyển cho Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ký tên, đóng dấu. Trường hợp Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ủy quyền cho cán bộ địa chính xã tham gia kiểm đếm thì sau buổi kiểm đếm, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký tên, đóng dấu xác nhận lên biên bản.
6. Trường hợp người bị thu hồi đất hoặc chủ sở hữu tài sản không ký biên bản thì ghi rõ trong biên bản “Người bị thu hồi đất hoặc chủ sở hữu tài sản không ký”. Trường hợp kiểm kê theo diện vắng chủ thì ghi trong biên bản “Kiểm kê diện vắng chủ”. Trong trường hợp kiểm kê diện vắng chủ hoặc người bị thu hồi đất, chủ sở hữu tài sản có mặt khi kiểm kê nhưng không ký biên bản thì phải có chữ ký xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã (ký tên, đóng dấu) và chữ ký xác nhận của Trưởng Ban Quản lý thôn hoặc khu phố.
7. Người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc đo đạc, điều tra, khảo sát, kiểm đếm xác định diện tích đất, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất, cung cấp giấy tờ về đất đai và tài sản để lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
8. Người có đất bị thu hồi ngoài việc nộp tờ khai và các giấy tờ về đất đai, tài sản liên quan đến thửa đất bị thu hồi, đồng thời phải nộp cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng các giấy tờ có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của người bị thu hồi đất (bản chính hoặc bản sao) như: Hộ nghèo, hộ chính sách,...
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thực hiện việc khai thác thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để xác định số nhân khẩu trong hộ gia đình có liên quan đến thửa đất thu hồi. Trường hợp cơ sở dữ liệu quốc gia chưa có dữ liệu thông tin công dân, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp xã xác nhận thông tin về nhân khẩu trong hộ gia đình.
9. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm vào sổ theo dõi việc thu nhận Tờ khai và các loại giấy tờ mà người bị thu hồi đất đã nộp. Trường hợp người bị thu hồi đất nộp bản phô tô chưa được chứng thực thì người nhận hồ sơ yêu cầu chủ hộ mang bản chính để kiểm tra, đối chiếu, ký và ghi rõ họ tên người kiểm tra vào bản phô tô.