Điều 15
Khi tàu hành trình thuyền trưởng có trách nhệm:
1- Tính toán một cách thận trọng hướng đi của tàu nhằm đảm bảo an toàn và kinh tế nhất. Thường xuyên áp dụng mọi phương pháp, sử dụng mọi thiệt bị hàng hải được trang bị trên tàu để xác định chính xác vị trí của tàu. Kiểm tra, hướng dẫn và yêu cầu các thuyền phó trực ca phải thực hiện nghiêm chỉnh quy định hiện hành về chế độ trực ca khi tàu hành trình.
2- Chú ý kiểm tra hướng đi của tàu. Ngoài thuyền trưởng không ai có quyền thay đổi hướng đi đã định. Trường hợp có nguy cơ va chạm hoặc để tránh tình huống nguy hiểm bất ngờ hay có người rơi xuống biển thì Thuyền phó trực ca có quyền thay đổi hướng đi của tàu nhưng phải báo ngay cho thuyền trưởng.
3- Khẩn trương có mặt ở buồng lái khi thuyền phó trực ca yêu cầu và có mặt thường xuyên ở buồng lái khi tàu hành trình trong luồng hẹp, co biển, kênh đào, gần bờ, khi ra vào cảng, trong các khu vực nguy hiểm, thời tiết xấu, tầm nhìn xa bị hạn chế hoặc qua những khu vực có mật độ tàu thuyền nhiều v.v... Trong các trường hợp nói trên, thuyền trưởng phải áp dụng các biện pháp thích hợp, neo phải ở vị trí sẵn sáng "thả neo" và phải báo cho buồng máy biết để sẵn sàng thực hiện điều động khi cần thiết.
4- Khi gặp các tảng băng trôi, các vật chướng ngại và các nguy hiểm trực tiếp khác đối với tàu hoặc khi gặp bão nhiệt đới, gặp nhiệt độ không khi xuống dưới 0oC cùng với gió mạnh gây ra đóng băng trên thượng tầng kiến trúc của tàu hay khi gặp gió cấp 10 hoặc trên cấp 10 mà chưa nhận được tin bão thì thuyền trưởng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để xử lý tình huống một cách thích hợp nhằm đảm bảo an toàn người, tàu và hàng hoá trên tàu. Đồng thời, thông báo ngay những diễn biến nói trên cho các tàu thuyền xung quanh, cho chủ tàu và cho cơ quan có thẩm quyền đầu tiên ở đất liền mà tàu có thể liên lạc được.
5- Trường hợp tàu đi vào vùng có băng do tàu phá băng dẫn đường, thuyền trưởng phải chấp hành sự hướng dẫn của thuyền trưởng tàu phá băng và kịp thời có các khuyến nghị với tàu phá băng để bảo đảm an toàn hàng trình cho tàu của mình.
6- Khi tàu hành trình ở khu vực bắt buộc phải có hoa tiêu dẫn tàu thì nhất thiết phải xin hoa tiêu. Tại những khu vực không bắt buộc có hoa tiêu dẫn tàu nhưng nếu thấy cần thiết thì thuyền trưởng vẫn có quyền xin hoa tiêu để bảo đảm an toàn hành trình của tàu.
7- Bảo đảm an toàn trong việc đưa đón hoa tiêu lên tàu và rời khỏi tàu. Bố trí chu đáo nơi nghỉ và ăn uống cho hoa tiêu.
8- Trước khi hoa tiêu dẫn tàu, thuyền trưởng thông báo cho hoa tiêu biết về tính năng điều động của tàu, những khuyết tật về khả năng điều động và tình trạng máy móc, thiết bị v.v... nhằm tạo điều kiện cho hoa tiêu có thể chủ động xử lý khi dẫn tàu.
Trường hợp hoa tiêu được quyền sử dụng thuỷ thủ lái và phương tiện thông tin liên lạc riêng thì thuyền trưởng vẫn phải thường xuyên có mặt ở buồng lái để kịp thời áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền, tăng cường việc cảnh giới và chuẩn bị neo ở vị trí sẵn sàng "thả neo".
9- Việc sử dụng hoa tiêu dẫn tàu không miễn giảm nghĩa vụ điều khiển tàu của thuyền trưởng. Thuyền trường phải có biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống có thể xảy ra nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho tàu.
Trường hợp hoa tiêu xử lý tình huống thiếu chính xác hoặc không hợp lý, thuyền trưởng phải kịp thời đình chỉ hành động xử lý đó của hoa tiêu và yêu cầu hoa tiêu phải có hành động đúng để bảo đảm an toàn hành trình của tàu. Trường hợp cần thiết, thuyền trưởng có quyền yêu cầu thay thế hoa tiêu. Khi vắng mặt ở buồng lái, thuyền trưởng phải giới thiệu cho hoa tiêu biết thuyền phó được mình uỷ quyền thay thế.
10- Khi tàu hành trình ở những khu vực chưa quen biết hoặc tầm nhìn xa bị hạn chế hay gần khu vực có nhiều vật chương ngại nguy hiểm, thuyền trưởng có quyền yêu cầu các thuyền phó khác phải có mặt ở vị trí để thực hiện nhiệm vụ.
11- Trường hợp có người rơi xuống biển, thuyền trưởng phải kịp thời áp dụng các biện pháp có hiệu quả để tìm cứu người bị nạn, đồng thời thông báo cho chủ tàu và thông báo cho các tàu thuyền khác đang hành trình gần khu vực đó tìm kiếm và cứu giúp. Chỉ được phép cho tàu rời khỏi khu vực có người đang bị mất tích khi đã cố gắng tìm kiềm nhưng xét thấy không còn hy vọng. Thời gian và các biện pháp đã tiến hành tìm cứu phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
12- Khi nhận được tín hiệu cấp cứu hoặc khi phát hiện có tàu bị nạn, thuyền trưởng có nhiệm vụ nhanh chóng điều động tàu đến cứu trợ nếu việc cứu trợ này không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tàu, hàng hoá và thuyền viên của mình. Tàu chỉ được phép tiếp tục hành trình khi đã nhận được thông báo của tàu bị nạn không cần cứu giúp. Thời gian, vị trí tàu bị nạn và lý do dến hoặc không đến cứu trợ phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
Khi cứu trợ tàu bị nạn, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp có hiệu quả để cứu người. Việc cứu tàu, hàng hoá và tài sản khác chỉ được tiến hành khi có sự thoả thuận của thuyên trưởng tàu bị nạn theo hợp đồng cứu hộ. Trường hợp vì lý do nào đó mà thuyền trưởng tàu bị nạn không thể ký hợp đồng cứu hộ thì ít nhất phải có sự thoả thuận bằng lời hay bằng vô tuyến điện hoặc bằng tín hiệu trông thấy được của thuyền trưởng tàu bị nạn. Các hình thức thoả thuận này phải được ghi vào nhật ký hàng hải.
13- Khi gặp tàu không có người, nếu điều kiện cho phép thì thuyền trưởng phải tổ chức kéo tàu đó vào cảng gần nhất và thông báo cho chính quyền cảng, chủ tàu và cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam ở nước đó biết. Trường hợp không thể lai dắt được thì ghi vào nhật ký hàng hải vị trí của tàu đó, nguyên nhân không thực hiện được việc lai dắt... và phải thông báo cho chính quyền cảng gần nhất.
14- Nếu tàu mình bị tai nạn cần thiết có sự cứu trợ thì thuyền trưởng phải dùng mọi biện pháp yêu cầu tàu khác cứu giúp, nhưng trước hết phải yêu cầu sự cứu trợ của các tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam.
15- Trường hợp xảy ra va chạm với tàu khác, thuyền trưởng phải yêu cầu thuyền trưởng tàu kia báo cho mình biết tên tàu, chủ tàu, hô hiệu, cảng đăng ký, cảng xuất phát, cảng ghé và cảng đến. Đồng thời, phải thông báo cho tàu kia biết những thông tin nói trên của tàu mình. Nếu xét thấy tàu mình có khả năng và điều kiện cho phép thì phải có trách nhiệm cứu tàu bị nạn, trước hết là cứu người.
16. Sau khi xảy ra va chạm, thuyền trưởng phải kịp thời lập biên bản về điễn biến xảy ra sự cố, nêu rõ sự thiệt hại của mỗi bên có sự xác nhận của thuyền trưởng tàu kia và các bên hữu quan. Đồng thời, tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ tai nạn theo quy định của pháp luật.
17. Trường hợp tàu bị nạn không còn khả năng cứu được và bắt buộc phải bỏ tàu, thuyền trưởng phải áp dụng mọi biện pháp để cứu người và tổ chức mang theo nhật ký hàng hải, nhật ký máy, nhật ký vô tuyến điện, hải đồ khu vực bị nạn, tiền và các hồ sơ, tài liệu cần thiết khác v.v... của tàu. Thuyền trưởng phải là người phải rời tàu cuối cùng.
18. Khi bỏ tàu, thuyền trưởng phải ưu tiên giải quyết theo thứ tự: trẻ em, người ốm, phụ nữ và người già xuống xuồng cứu sinh.
19. Khi bỏ tàu, thuyền trưởng vẫn hoàn toàn có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trong việc tổ chức tìm kiếm và cứu số thuyền viên, hành khách (nếu có) đang bị mất tích và áp dụng các biện pháp cần thiết để đưa những người còn lại đến nơi an toàn và về nước, nếu tàu bị tai nạn ở nước ngoài.
20- Nếu được tàu khác cứu giúp, thuyền trưởng có trách nhiệm lãnh đạo thuyền viên, hành khách của tàu mình thực hiện nghiêm chỉnh quy định của tàu đó.
21- Trường hợp trên tàu không có đủ khả năng cứu chữa người lâm bệnh, thuyền trưởng có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để nhận được sự giúp đỡ về y tế, kể cả phải đưa tàu vào cảng gần nhất và phải báo ngay cho chủ tàu.
22- Trường hợp thuyền trưởng lâm bệnh nặng hoặc bị tai nạn bất ngờ thì tạm thời trao lại quyền chỉ huy tàu cho thuyền phó nhất và báo cho chủ tàu biết để có biện pháp giải quyết kịp thời. Đồng thời báo cáo cho cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam tại nước đó biết nếu tàu ở nước ngoài và phải ghi vào nhật ký hàng hải.