Điều 6. Nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất được chứng nhận quyền sở hữu hoặc không được chứng nhận quyền sở hữu
1. Tài sản được chứng nhận quyền sở hữu, gồm: Nhà ở, công trình xây dựng, cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng (trừ các trường hợp quy định tại Khoản 5 của Điều này), khi chủ sở hữu có nhu cầu, thuộc thửa đất có đủ điều kiện được chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
Chủ sở hữu nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở và có giấy tờ chứng minh việc tạo lập hợp pháp về nhà ở theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.
3. Chứng nhận quyền sở hữu công trình.
Hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, được chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.
4. Chứng nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Chủ sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng được chứng nhận quyền sở hữu rừng nếu vốn để trồng rừng, nhận chuyển nhượng rừng, được giao rừng có thu tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 10 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.
5. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 8 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP hoặc có giấy tờ nhưng không phù hợp với hiện trạng công trình nhà ở được xét chứng nhận quyền sở hữu như sau:
a) Trường hợp chủ sở hữu nhà ở đã có giấy phép xây dựng hoặc các giấy tờ hợp lệ khác nhưng hiện trạng công trình nhà ở không phù hợp với giấy tờ đó thì cấp Giấy chứng nhận sở hữu nhà ở theo hiện trạng đã xây dựng (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này và trường hợp số tầng lớn hơn giấy phép xây dựng hoặc các giấy tờ hợp lệ khác).
Trường hợp nhà ở đã xây dựng có số tầng lớn hơn giấy phép xây dựng hoặc các giấy tờ hợp lệ khác thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý cấp giấy phép xây dựng nhà ở theo thẩm quyền và được cơ quan quản lý cấp giấy phép xây dựng nhà ở xác nhận sự thay đổi của công trình phù hợp quy hoạch xây dựng chi tiết hiện nay (nếu có).
b) Trường hợp chủ sở hữu nhà ở không có Giấy tờ quy định tại Điều 8 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP thì:
- Nhà ở xây dựng trước ngày 01/7/2006 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật;
- Nhà ở xây dựng sau ngày 01/7/2006:
+ Đối với trường hợp nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng thì phải có Giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006.
+ Đối với trường hợp nhà ở phải xin Giấy phép xây dựng thì phải có Giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý cấp giấy phép xây dựng nhà ở theo thẩm quyền và được cơ quan quản lý cấp giấy phép xây dựng nhà ở chấp thuận.
c) Trường hợp chính quyền địa phương chưa thực hiện việc cấp phép xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn thì nhà ở đã xây dựng đều được xem xét chứng nhận quyền sở hữu nếu được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp về nhà ở, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng được duyệt hoặc xác nhận xây dựng trước khi có quy hoạch theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 8 của Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.
6. Tài sản gắn liền với đất không được chứng nhận quyền sở hữu.
Thực hiện theo quy định tại Khoản 12, Điều 6 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT).