Điều 40. Bồi thường về di chuyển mồ mã
1. Đối với việc di chuyển mồ mả không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì người có mồ mả phải di chuyển được bố trí đất và được bồi thường chi phí đào, bốc, di chuyển, xây dựng mới và các chi phí khác có liên quan trực tiếp theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.
2. Trường hợp hộ gia đình di chuyển mồ mả về khu đất do Nhà nước bố trí thì được bồi thường di chuyển mồ mả theo đơn giá cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
3. Trường hợp gia đình tự lo đất di chuyển mồ mả thì ngoài phần bồi thường di chuyển theo khoản 2 Điều này, hộ gia đình được hỗ trợ thêm chi phí về đất đai do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
4. Mộ xây có kiến trúc đặc biệt: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán hoặc thuê đơn vị tư vấn đủ năng lực lập dự toán gửi phòng có chức năng của cấp huyện thẩm tra trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.
5. Đối với mộ vô chủ hoặc trong trường hợp cưỡng chế di dời mộ: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng ký hợp đồng với đơn vị phục vụ mai táng của địa phương để tổ chức bốc mộ, cải táng và để thân nhân nhận lại mộ sau này và tiến hành thực hiện các nội dung sau:
a) Vẽ sơ đồ, tọa độ các mộ nói trên trước khi dời đi và phải chụp ảnh những mộ này.
b) Ghi những điểm cần thiết như họ tên, tuổi, ngày chết, quê quán của người chết, nơi đã chôn và tình trạng mồ trước lúc di chuyển.
c) Nên giữ lại bia mộ cũ, thánh giá cũ hoặc các vật đặc trưng của ngôi mộ (nếu có) để sau này chủ mộ có thêm bằng chứng xác minh mộ.
6. Đối với mộ có nhiều bộ hài cốt: Ngoài việc bồi thường di chuyển đối với 01 mộ theo quy định; mỗi một bộ hài cốt phát sinh sẽ được bồi thường di chuyển theo đơn giá mộ đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.
7. Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và các sở, ngành có liên quan trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định mức bồi thường cụ thể trong đơn giá bồi thường thiệt hại tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận phù hợp theo từng thời điểm.