Điều 11. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
1. Thực hiện theo quy định tại Điều 79 Luật Đất đai và Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP;
2. Mức đất ở tái định cư cho từng hộ gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đối với trường hợp trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi thì mỗi hộ gia đình được giao đất ở theo mức sau:
a) Hộ chính được giao 01 lô đất ở tại khu tái định cư tập trung;
b) Các hộ còn lại nếu không còn đất ở, nhà ở nào khác và có đơn xin giao đất ở thì Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện tổng hợp, gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định giao đất ở tại các khu dân cư cho các hộ dân tùy theo quỹ đất ở của địa phương.
3. Việc giải quyết đất ở đối với các hộ còn lại theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này chỉ được thực hiện khi các cặp vợ chồng không có đất ở, nhà ở nào khác tại xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi và có tên trong sổ hộ khẩu của hộ chính trước thời điểm Nhà nước có thông báo thu hồi đất do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận. Tổng diện tích đất ở giải quyết cho các trường hợp quy định tại khoản này không được vượt quá diện tích đất ở bị thu hồi của hộ chính.
4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở hoặc hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 có nguồn gốc do lấn, chiếm mà thực tế đang ở từ thời điểm lấn chiếm đến thời điểm có thông báo thu hồi đất, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao 01 lô đất ở tại các khu dân cư trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố.
5. Việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thu tiền sử dụng đất các trường hợp tại điểm b khoản 2 và khoản 4 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai. Trong đó, tiền sử dụng đất xác định theo giá đất cụ thể tính bằng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định nhân (x) với hệ số K tại thời điểm có quyết định giao đất; giá bán nhà ở, căn hộ tái định cư là giá do chủ đầu tư đề nghị được Sở Xây dựng thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
6. Trường hợp người bị thu hồi đất thuộc diện hộ nghèo (có sổ hộ nghèo), ngoài số tiền miễn, giảm tiền sử dụng đất chính sách hộ nghèo theo quy định pháp luật, còn được Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ 50% tiền sử dụng đất theo suất tái định cư tối thiểu do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tại Quy định này.