Điều 12. Hội đồng kỷ luật
1. Hội đồng kỷ luật công chức cấp xã do Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ xem xét, đề nghị Chủ tịch UBND huyện, thị xã (gọi chung là cấp huyện) trong việc áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp với hành vi vi phạm của công chức cấp xã; Hội đồng kỷ luật làm việc và tự giải tán sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
2. Hội đồng kỷ luật gồm 03 thành viên, cụ thể như sau:
- Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã.
- Một ủy viên Hội đồng là đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở xã, phường, thị trấn (gọi chung là Công đoàn cơ sở xã). Nếu chưa thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở xã thì cử đại diện công chức cấp xã (do tập thể công chức tại UBND cấp xã đó lấy phiếu tín nhiệm và cử tham gia Hội đồng).
- Một ủy viên Hội đồng là đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
3. Ngoài thành phần nêu trên: Hội đồng kỷ luật có thể mời đại diện Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cấp xã (nếu người phạm lỗi là nữ), đại diện tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã (nếu người phạm lỗi là thanh niên), các đại diện được mời có quyền phát biểu ý kiến, nhưng không được quyền biểu quyết.
4. Người có quan hệ gia đình với công chức cấp xã vi phạm kỷ luật không được tham gia thành viên Hội đồng kỷ luật bao gồm: Cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng được pháp luật công nhận; Cha, mẹ vợ (hoặc chồng); Vợ hoặc chồng của người vi phạm; Anh, chị, em ruột; Anh, chị, em dâu (rễ) được pháp luật công nhận; Con đẻ, con dâu, con rể, con nuôi được pháp luật công nhận.
5. Thư ký Hội đồng kỷ luật:
a) Là đại diện công chức cấp xã thuộc bộ phận Văn phòng và phụ trách tổ chức của UBND cấp xã, do Chủ tịch Hội đồng chỉ định.
b) Thư ký Hội đồng kỷ luật có nhiệm vụ chuẩn bị các tài liệu, hồ sơ liên quan đến việc xử lý kỷ luật và chịu trách nhiệm ghi biên bản cuộc họp của Hội đồng kỷ luật.