Điều 8. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 9 của Luật Thuếgiá trị gia tăng được quy định cụ thể như sau:
1.Phương pháp khấu trừ thuế:
Sốthuế giá trị gia tăng phải nộp được xác định bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ratrừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ.
a)Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuếbán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó.
Trườnghợp cơ sở bán hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng không ghi cụ thể giábán chưa có thuế và thuế giá trị gia tăng trên hoá đơn giá trị gia tăng thìthuế giá trị gia tăng đầu ra được tính trên giá bán ra của hàng hoá, dịch vụđó, trừ trường hợp được dùng hoá đơn, chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã cóthuế giá trị gia tăng.
b)Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế giá trị gia tăngghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuếgiá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và số thuế được tính khấu trừ theo tỷ lệ ấnđịnh quy định tại Điều 9 Nghị định này.
c)Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với các cơ sở kinh doanh, trừ các đối tượngáp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng theo quy định tạikhoản 2 Điều này.
2.Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Sốthuế giá trị gia tăng phải nộp được xác định bằng giá trị gia tăng của hànghóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng củaloại hàng hóa, dịch vụ đó.
a)Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định bằng giá thanh toán củahàng hóa, dịch vụ bán ra trừ () giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào tươngứng.
Giáthanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra là giá thực tế mua, bán ghitrên hoá đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng vàcác khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng, bên mua phải trả.
Giáthanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hóa,dịch vụ mua vào bao gồm cả thuế giá trị gia tăng mà cơ sở kinh doanh đã dùngcho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bán ra.
Trườnghợp cơ sở kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ cóhoá đơn, chứng từ làm căn cứ xác định giá trị gia tăng theo quy định trên đâythì giá trị gia tăng được xác định như sau:
Đốivới cơ sở kinh doanh đã thực hiện bán hàng hoá, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn,chứng từ theo chế độ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ nhưngkhông có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì giá trị gia tăng được xác địnhbằng doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu.
Đốivới cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá đơn mua,bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từngcá nhân kinh doanh để ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng đượcxác định bằng doanh thu ấn định nhân (x) với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tínhtrên doanh thu.
b)Tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu làm căn cứ xác định giá trị giatăng do cơ quan thuế quy định phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh.
BộTài chính hướng dẫn việc xác định giá trị gia tăng cụ thể đối với từng ngànhnghề kinh doanh.
c)Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với các đối tượngsau:
Cánhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinhdoanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiệnđầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theophương pháp khấu trừ thuế;
Cơsở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ thuộc đối tượng áp dụng tínhthuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị giatăng. Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương phápkhấu trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý thì được tínhvà kê khai thuế phải nộp riêng đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc,đá quý theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.