Điều 12. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu phải kê khai thuế giá trị gia tăng theo quyđịnh như sau:
1.Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng phải kê khai thuếgiá trị gia tăng từng tháng và nộp tờ kê khai thuế kèm theo bản kê hàng hóa, dịchvụ mua vào, bán ra làm căn cứ xác định số thuế phải nộp của tháng cho cơ quanthuế trong mười ngày đầu của tháng tiếp theo. Trong trường hợp không phát sinhdoanh số bán hàng hóa, dịch vụ, thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫnphải kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúngmẫu tờ khai thuế và chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của việc kêkhai.
Tổchức, cá nhân ở nước ngoài không có văn phòng hay trụ sở điều hành ở Việt Namcó cung ứng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng cho các đối tượng ởViệt Nam thì tổ chức, cá nhân ở Việt Nam tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ này là đốitượng chịu thuế phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nướcngoài. Thuế giá trị gia tăng phải nộp tính trên giá hàng hoá, dịch vụ phải trảcho phía nước ngoài.
2.Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị giatăng phải kê khai và nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng theo từng lần nhập khẩucùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan thu thuế nhập khẩu hàng hóa.
3.Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ có mức thuế suất thuế giá trị giatăng khác nhau phải kê khai thuế giá trị gia tăng theo từng mức thuế suất quyđịnh đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác định đượctheo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhấtcủa hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh.
Cơsở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý có hoạt động gia công, chế tác các sảnphẩm này, nếu không hạch toán được riêng doanh thu, thuế của hoạt động này thìáp dụng chung mức thuế suất 20% đối với cả gia công, chế tác và tính thuế trựctiếp trên giá trị gia tăng;