Điều 38. Nổ mìn trong các hoạt động dầu khí
1. Quy định chung
a) Trước khi tiến hành nổ mìn ngoài giàn, tàu khoan, phải tiến hành khảo sát, lên kế hoạch chi tiết về điều kiện, vị trí bảo quản, việc lắp đặt, di chuyển VLNCN và các công việc về nạp mìn, đấu nối…, quy định trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân trên giàn, tàu khoan có liên quan hoạt động sử dụng VLNCN.
b) Phải có hệ thống thông tin liên lạc phù hợp giữa trạm khởi nổ và khu vực thao tác tháo, lắp thiết bị nổ mìn với các khu vực liên quan trên giàn, tàu khoan.
c) Chỉ huy nổ mìn phải thực hiện các thủ tục với tổ chức, cá nhân trên giàn, tàu khoan để có thể tiến hành các công việc chuẩn bị VLNCN cho việc nổ mìn, bao gồm:
- Thống nhất chi tiết về các công việc phối hợp giải quyết liên quan đến sử dụng VLNCN, hạn chế sử dụng radio, hàn và nguồn nhiệt để đảm bảo các yêu cầu về an toàn, phương án xử lý tình huống bất thường với lãnh đạo giàn, tàu khoan và có đồng ý bằng văn bản của người phụ trách trực tiếp giàn, tàu khoan cho phép thực hiện nổ mìn;
- Họp an toàn với tất cả các nhân viên thực hiện nổ mìn, bao gồm cả người giám sát hoặc đại diện giàn, tàu khoan về trách nhiệm của từng người, từng bộ phận thực hiện các công việc trong chuẩn bị và thi công nổ mìn, các nguy cơ gây mất an toàn, các biện pháp an toàn;
- Thiết lập khu vực lắp, dỡ thiết bị nổ mìn và bảo quản VLNCN tạm thời trước khi tháo lắp. Khu vực này phải cách các vị trí hoạt động khác lớn hơn 15 m. Trường hợp khu vực tháo lắp thiết bị nổ mìn được bao kín bằng các cấu trúc chịu được sự phá hủy khi nổ của VLNCN đem ra sử dụng cho phép giảm khoảng cách nhưng không được nhỏ hơn 7,0 m. Phải dừng hoạt động tất cả các công việc hàn điện, hàn khí trong phạm vi 15 m khi nạp đạn và đấu nối kíp;
- Thiết lập khu vực cách ly sóng vô tuyến đối với kíp nổ điện thông thường (EED-Electro Explosive Device) và không phải thiết lập khu vực cách ly sóng vô tuyến đối với kíp nổ điện dây dẫn cầu (EBW-Exploding Bridgewire);
- Chỉ định khu vực sơ tán trong các trường hợp khẩn cấp, khu vực sử dụng ngọn lửa trần, người không liên quan đến công tác nổ mìn phải cách khu vực lắp dỡ, bảo quản VLNCN lớn hơn 25 m. Không được hút thuốc hoặc làm các công việc xuất hiện tia lửa trong khu vực này.
d) Chỉ được để lượng VLNCN đủ dùng cho một đợt nổ mìn trong ngày tại khu vực đã thiết lập. Không được để bộ phận kích nổ, kíp nổ hoặc phụ kiện nổ trong khu vực tháo, lắp cùng với thiết bị nổ mìn đã lắp đặt VLNCN. Chỉ được mở bao gói các VLNCN cần dùng ngay cho việc lắp thiết bị bắn nổ.
đ) Kíp điện sử dụng phải có điện trở lớn hơn 50 Ω và dòng an toàn (dòng không gây nổ kíp) không nhỏ hơn 200 mA hoặc thuộc loại kích nổ điện áp cao. Các thiết bị đo, kiểm tra mạng nổ, kíp điện phải tuân theo quy định tại khoản 3, Điều 34 Quy chuẩn này hoặc theo hướng dẫn của nhà chế tạo (nếu hướng dẫn này đưa ra các yêu cầu an toàn cao hơn). Phải bảo quản kíp nổ trong hộp đựng kíp và chỉ lấy ra trước khi sử dụng. Không được để kíp nổ trong túi áo quần, hộp dụng cụ, vv…. Kíp điện đã tháo khỏi bao gói phải luôn đặt trong ống bảo vệ khi đo kiểm tra và trước khi đấu lắp vào thiết bị nổ mìn. Chỉ thao tác trên từng dây một khi cắt các dây dẫn trên một kíp nổ.
e) Thiết bị điều khiển nổ mìn sử dụng điện (máy nổ mìn) ở trạm đo phải có mạch an toàn để thực hiện việc ngắt toàn bộ các đường cấp và nối chung vào vỏ cáp thông qua điện trở có trị số 5.000 Ω. Máy nổ mìn phải có khóa an toàn. Bộ tụ phóng điện của máy nổ mìn phải được trang bị điện trở tiêu áp xuống dưới 50 % ngưỡng điện áp kích nổ trong vòng 60 s. Các đường cấp điện phải có giàn đỡ bảo vệ khỏi thiệt hại do các hoạt động trên giàn gây ra.
g) Phải sử dụng dòng điện có cường độ lớn hơn 0,2 A để kích nổ kíp nổ thông thường và cường độ lớn hơn 0,5 A để kích nổ kíp nổ điện dây dẫn cầu.
h) Không được để kim loại chạm vào dây dẫn kíp nổ điện. Khi sử dụng kíp nổ điện thông thường, phải duy trì khoảng cách đến đường dây nguồn điện xoay chiều lớn hơn 15 m. Phải sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu hoặc kíp nổ phi điện đối với trường hợp khoảng cách đến đường dây nguồn điện xoay chiều nhỏ hơn 15 m.
k) Trường hợp có nguồn bão điện từ, giông, bão, sấm chớp gần khu vực làm việc, chỉ được sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu. Trong trường hợp có giông bão, sấm chớp và kíp nổ điện thông thường đã được lắp vào hệ thống mang nổ đưa vào giếng, phải hạ thấp ngay hệ thống mang nổ xuống sâu hơn 200 m dưới mặt đất hoặc đáy biển trước khi ngưng công việc hoàn toàn.
l) Chỉ huy nổ mìn phải giữ chìa khóa khởi nổ cho đến khi hệ thống nổ được đưa xuống độ sâu 60 m dưới mặt đất hay đáy biển mới được đem trở lại trạm điều khiển, giao chìa khóa cho thợ mìn. Trước khi kết nối đầu cáp với hệ thống nổ phải tắt các thiết bị dùng sóng vô tuyến (trừ trường hợp sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu), chỉ huy nổ mìn phải đo kiểm tra dòng và điện áp nổ mìn đạt mức thiết kế. Trước khi xoay công tắc trên bảng điều khiển để cấp điện cho cáp, chỉ huy nổ mìn phải xác định đầu cáp địa vật lý chưa được nối với bất kỳ thành phần nào của hệ thống nổ.
m) Các phụ kiện kích nổ kiểu cơ hoặc thủy lực phải được thử nghiệm chịu được ở các điều kiện nhiệt độ và áp suất tương tự điều kiện thực tế của giếng khoan.
n) Đối với giếng khoan có áp suất, phải thực hiện đo và cân bằng, kiểm soát áp suất trước khi thả hệ thống mang. Trong quá trình nổ mìn, nếu xuất hiện có sự bất thường về áp suất trong giếng cần tiến hành điều chỉnh và kiểm soát áp suất trước khi tiến hành tiếp tục công việc.
Các thiết bị thả trong giếng khoan phải được thiết kế để có thể thông, giảm áp bên trong thiết bị khi kéo ra khỏi giếng khoan.
p) Trước khi kéo hệ thống nổ ra khỏi giếng khoan, chỉ huy nổ mìn phải giữ chìa khóa máy nổ mìn. Phải tắt các thiết bị dùng sóng vô tuyến (trừ trường hợp sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu) trước khi đưa hệ thống nổ lên trên mức 60 m so với mặt đất hay đáy biển cho đến khi có xác nhận đã nổ đúng thiết kế.
q) VLNCN thừa sau khi lắp phải được bao gói lại và để trong thùng chứa riêng, các mảnh dây nổ, thuốc nổ rơi vãi thu dọn phải đóng gói để trong thùng chứa khác với các loại rác thải bao bì rỗng, dây dẫn…. Ngay sau khi kết thúc quá trình lắp thiết bị nổ mìn, toàn bộ phế thải, VLNCN thừa phải được di chuyển ra khỏi khu vực tháo lắp đến nơi bảo quản; phế thải phải được vận chuyển về đất liền để tiêu hủy theo quy định.
2. Nổ mìn bằng cáp địa vật lý
a) Thông báo và đặt biển báo “Nổ mìn - Nguy hiểm”, căng dây cách ly xung quanh khu vực đã chỉ định. Tạm ngừng hoạt động các trạm thu, phát sóng trong vùng nguy hiểm. Phải ngắt nguồn điện của thiết bị thu phát sóng.
Không cho phép các loại tàu, máy bay trực thăng đến giàn, tàu khoan trong khi thi công nổ mìn. Không tiến hành công việc nếu trong vùng nguy hiểm có các trạm thu, phát sóng cao tần, trong khi có bão, mưa giông, sấm chớp và phải báo cáo với lãnh đạo đơn vị, người đại diện giàn, tàu khoan.
Phải nối đất trạm điều khiển với cấu trúc giàn khoan và đầu giếng khoan. Hệ thống tiếp địa phải bảo đảm nối chắc chắn với các chi tiết ống chống, bộ thiết bị đầu giếng, giàn… thông qua cáp đồng và mỏ kẹp chữ “C”;
b) Thực hiện chống dòng rò điện bằng các biện pháp sau:
- Ngưng việc hàn cắt bằng điện, cách ly điện động cơ đỉnh giàn và thiết bị chống ăn mòn điện hóa chân đế giàn khoan trước khi có hoạt động liên quan đến kíp nổ (nếu có);
- Kiểm tra mức điện áp đầu giếng giếng khoan, các đường dây được nối đất để loại bỏ điện áp rò rỉ, điện trở nối đất cho phép là từ 0,5 đến 4 . Phải kiểm tra điện trở nối đất trước khi nổ mìn. Trước khi nối đất, phải kiểm tra điện áp xoay chiều (AC)/một chiều (DC) giữa đầu giếng khoan và giàn khoan, đầu giếng khoan và cáp địa vật lý, giàn khoan và cáp địa vật lý bằng vôn kế trước khi lắp, cực dương phải gắn vào giàn khoan. Điện áp tối đa chấp nhận được trước khi nối đất là 0,25 V AC/DC, sau khi nối đất, điện trở phải nhỏ hơn 0,5 . Điện áp tối đa chấp nhận được giữa trạm điều khiển, cáp địa vật lý, đầu giếng, cấu trúc giàn khoan hoặc đường ống có thể tiếp xúc với đường cáp địa vật lý trước khi nối đất là 0,25 V AC/DC. Trường hợp điện áp lớn hơn 0,25 V và nhỏ hơn 5,0 V trước khi nối đất, phải sử dụng loại kíp nổ điện dây dẫn cầu. Không được thực hiện công việc đối với trường hợp điện áp lớn hơn 5,0 V cho đến khi tìm được nguồn gây ra rò điện và khắc phục giảm xuống dưới 5,0 V. Trường hợp không thể giảm điện áp xuống dưới 5,0 V trước khi nối đất, phải chuyển sang sử dụng hệ thống bắn vỉa bằng cần khoan (TCP-Tubing Conveyed Perforating);
- Tiến hành tiếp đất từ ống chống tới giàn và trạm đo;
- Thực hiện kiểm tra hệ thống mạng điện nổ mìn, kíp nổ bằng dụng cụ quy định. Khi kiểm tra phải đảm bảo không có VLNCN gần khu vực đo kiểm tra;
- Thông qua mạch an toàn, ngắt toàn bộ các nguồn điện 1 chiều và xoay chiều từ máy nổ mìn ở trạm đo đến giàn, tháo khoá an toàn (khóa chính) của trạm đo và người chỉ huy nổ mìn phải cầm giữ chìa khóa của trạm đo;
- Thông báo cho toàn giàn, tàu khoan và ngừng các công việc nguy hiểm theo giấy phép làm việc, đưa những người không có phận sự ra khỏi khu vực nguy hiểm.
c) Cách ly sóng vô tuyến
- Tắt tất cả các máy phát vô tuyến và các hoạt động hàn điện trong phạm vi bán kính 300 m từ thời điểm lấy kíp nổ điện thông thường ra khỏi thùng chứa kíp cho đến khi hệ thống nổ ở độ sâu 200 m dưới mặt đất hay đáy biển. Khi sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu vào hệ mang nổ, không cần cách ly sóng vô tuyến hoặc hệ thống liên lạc không dây được thiết kế và được chứng nhận an toàn đạt chuẩn công nghiệp dầu khí;
- Không được sử dụng các thiết trong bán kính 15 m bao gồm: Điện thoại di động ≤ 5W; điều khiển từ xa; khởi động từ xa; hệ thống định vị đang hoạt động; hệ thống giám sát áp suất lốp; máy tính xách tay có chức năng Bluetooth, kết nối không dây chuẩn và các thiết bị RF cầm tay khác có công suất ≤ 1,0 W (trừ khi sử dụng bên trong trạm điều khiển); các thiết bị thu phát như radio, TV, vi sóng, radar;
- Phải ngắt sóng di động khi đang thao tác với kíp nổ đối với bộ phát vô tuyến công suất thấp; hệ thống thu thập và truyền dữ liệu tự động ≤ 0,5 W; hệ thống Giám sát hành trình được sử dụng trong các phương tiện để ghi lại thời gian, theo dõi định vị theo thời gian thực và theo dõi hiệu suất.
d) Đấu nối mô-đun khởi nổ (mồi, kíp, dây)
- Kiểm tra không có dông, bão nguy hiểm trong vùng lân cận. Trường hợp có dông, bão, tất cả các kíp nổ phải được để lại trong thùng chứa an toàn cho đến khi cơn dông, bão đã chấm dứt;
- Dừng tất cả các công việc hàn điện, khí;
- Đặt loa phóng thanh trên sàn giàn khoan hoặc trong khu vực làm việc. Có thể sử dụng tín hiệu tay để bổ sung cho các giao tiếp bằng giọng nói;
- Trường hợp sử dụng bộ đàm chạy pin trong quá trình đấu nối, chỉ được sử dụng loại được thiết kế để sử dụng trong vùng lân cận của VLNCN. Trước khi sử dụng phải đảm bảo đã sạc đầy pin;
- Lắp đặt cáp nối đất và cáp giám sát điện áp rò rỉ đầu giếng (VM-Voltage Monitoring) để tạo thành một vòng lặp liên tục và kiểm tra tính liên thông giữu Trạm điều khiển – đầu giếng khoan (cáp giám sát điện áp rò rỉ đầu giếng nên đi trực tiếp từ trạm đo đến đầu giếng);
- Kiểm tra thiết bị báo động điện áp rò rỉ đầu giếng (VM-Voltage Monitoring, cảnh báo nhân viên giàn khoan trước khi kích hoạt báo động thử. Báo động bằng hình ảnh và âm thanh phải rõ ràng cho người đang làm việc tại sàn giàn khoan và khu vực đang đấu nối mô-đun khởi nổ;
- Kiểm tra điện áp giữa trạm điều khiển, cấu trúc giàn khoan và đầu giếng lần nữa, và kiểm tra điện áp trên thiết bị giám sát rò rỉ đầu giếng. Giá trị phải nhỏ hơn 0,25V (AC và DC). Nếu không đạt yêu cầu, tìm nguyên nhân và khắc phục trước khi tiếp tục hoặc sử dụng kíp nổ điện dây dẫn cầu nếu mức điện áp lớn hơn 0,25 V và nhỏ hơn 5V;
- Đem đầu cáp vào trạm điều khiển để kiểm tra cách điện và thông điện. Người thực hiện kiểm tra phải nhìn thấy đầu cáp, tránh trường hợp áp điện nhầm gây nguy hiểm cho người khác hoặc vô tình gây kích nổ. Kết nối đầu cáp với các thiết bị đo vị trí, các cần nặng và các phụ kiện khác như các đầu súng và kiểm tra toàn hệ thống;
- Đưa ống mang đã nạp đạn và dây dẫn nổ đến khu vực sàn khoan gần đầu giếng. Thiết lập khu vực giới hạn để chuẩn bị đấu nối mô-đun khởi nổ và đặt biển báo "Nguy hiểm - Thuốc nổ" xung quanh khu vực. Khu vực đấu nối mô-đun không được có ổ cắm điện;
- Khi đấu nối phải đấu điện trước khi đấu nối kíp. Tất cả các nhân viên không phận sự phải rời khỏi khu vực cho đến khi đấu nối xong và hệ thống nổ đã được đưa xuống giếng;
- Yêu cầu và xác nhận cách ly vô tuyến và đặt các biển báo "Radio Silence";
- Đảm bảo rằng trong trạm điều khiển khởi nổ:
+ Tắt tất cả các thiết bị dùng điện không cần thiết;
+ Tất cả các núm xoay điều khiển công suất và tất cả các nguồn cấp điện, đặc biệt là điều khiển công suất cho các thiết bị đo địa vật lý, ở vị trí bằng không;
+ Xoay khóa công tắc trên bảng điều khiển nổ đến vị trí SAFE hoặc OFF và đưa chìa khóa cho nhân viên làm việc trực tiếp với vật liệu nổ bên ngoài trạm điều khiển;
+ Sơ tán tất cả các nhân viên không phận sự ra khỏi trạm điều khiển;
- Thực hiện kiểm tra điện cho toàn hệ thống thiết bị và ống mang đã được nạp đạn, chưa đấu nối kíp ở bước này;
- Cho phép sử dụng băng keo hoặc kẹp để cố định ống an toàn lắp kíp nổ vào gần đầu dưới ống mang sao cho nếu có xảy ra nổ kíp trước khi đấu nối thì cũng không kích hoạt súng. Chú ý không cầm giữ ống an toàn bằng tay trong khi kiểm tra kíp nổ hoặc đấu nối dây kíp nổ;
- Lấy kíp nổ ra khỏi hộp đựng kíp. Đảm bảo rằng ống an toàn không bị nóng bất thường trước khi đặt kíp nổ vào bên trong ống. Đóng nắp ống an toàn, siết chặt bulông giữ nắp, sau đó gỡ nối (shunt);
- Cắt dây kíp chính xác đến chiều dài cần thiết, từng dây một;
- Người lắp kíp nổ phải đứng ở vị trí có thể tránh được chấn thương trong trường hợp nổ kíp ngẫu nhiên, sau đó kết nối một trong các dây của kíp với thân của ống mang đã nối đất;
- Sử dụng đồng hồ đo kiểm tra thông điện giữa thân súng và dây còn lại của kíp. Đồng hồ sẽ chỉ trở kháng của kíp;
- Kết nối dây kíp còn lại với đầu dưới dây điện đi qua tâm dọc trục của súng. Sử dụng đồng hồ đo kiểm tra thông điện giữa đầu trên dây điện và thân súng. Đồng hồ sẽ chỉ trở kháng của kíp. Lưu ý không tháo kíp nổ khỏi ống an toàn ở thời điểm này;
- Sử dụng đồng hồ đo kiểm tra tiếp các điểm của đầu cáp, thiết bị dò vị trí, thiết bị đo dung sai đường kính để đảm bảo rằng không có điện áp đi lạc, sau đó quẹt mát các tiếp điểm này để loại trừ tĩnh điện;
- Kết nối thân ống mang nạp đạn với cụm đầu cáp, thiết bị dò vị trí, thiết bị đo dung sai đường kính, cân nặng …;
- Cắt dây dẫn nổ đến đúng chiều dài cần thiết;
- Đảm bảo rằng mọi người đã ở vị trí tránh đường đạn bay hoặc hướng tia xuyên vỉa, sau đó tháo kíp nổ ra khỏi ống an toàn và kết nối với dây dẫn nổ. Tháo ống an toàn ra khỏi ống mang (nếu cần) và kết thúc đấu nối;
- Thu gom các mảnh vụn của dây dẫn nổ và bất kỳ vật liệu nổ rơi vãi nào khác và lưu trữ riêng để hủy sau;
- Nếu sử dụng tời điện thì phải chạy tời không tải và đo kiểm tra dòng điện đi lạc giữa móc cáp và sàn khoan, nếu an toàn mới dùng để nâng hạ hệ thống nổ.
đ) Thả thiết bị nổ mìn và thực hiện khởi nổ
- Thả dần thiết bị nổ mìn với tốc độ theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Chỉ được cấp lại nguồn điện khi thiết bị bắn mìn đã ở độ sâu 60 m so với mặt đất hoặc đáy biển, trả chìa khóa khởi nổ về cho Chỉ huy nổ mìn trong trạm điều khiển. Thông báo bằng loa “ngưng cách lý vô tuyến cho đến khi có thông báo mới” và gỡ các biển báo "Nguy hiểm - Thuốc nổ";
- Tiếp tục đưa hệ thống nổ xuống giếng, khi đạt chiều sâu cần thiết thì dừng lại. Chỉ huy nổ mìn kiểm tra các thông số áp suất giếng, hệ dung dịch, sức căng cáp… và áp dòng nổ mìn;
- Khi thả thiết bị bắn mìn trong nước biển, có thể cấp lại nguồn điện ở độ sâu dưới mực nước biển 60 m nếu hậu quả rủi ro tại độ sâu này đã được đánh giá có thể chấp nhận được và phải được sự chấp thuận của người đại diện giàn khoan;
- Trước khi kích nổ, chỉ huy nổ mìn phải kiểm tra toàn bộ các điều kiện để đảm bảo khởi nổ an toàn thiết bị bắn mìn. Các điều kiện an toàn có thể được cảm nhận được qua sự rung lắc và thay đổi sức căng của cáp địa vật lý, hoặc sự thay đổi áp suất trong giếng khoan và đầu giếng, hoặc có sự nhảy vọt dòng điện trên bảng điều khiển;
- Chỉ huy nổ mìn thông báo cho toàn giàn hoặc tầu khoan và phát lệnh khởi nổ;
đ) Thu hồi thiết bị nổ mìn và xử lý mìn câm
- Sau khi nổ, khi thiết bị nổ mìn được kéo lên tới 60 m dưới mặt đất hoặc đáy biển, phải lập lại các trình tự ngắt nguồn điện, tắt thiết bị thu phát sóng radio như khi thiết bị bắn mìn thả xuống giếng khoan. Không được kéo thiết bị nổ mìn ra khỏi giếng trong thời gian có bão, sấm chớp cũng như khi máy bay trực thăng, tầu thuyền đến giàn;
- Kiểm tra và xả áp suất dư trong thiết bị bắn mìn (nếu có) theo hướng dẫn của nhà sản xuất trước khi đưa ra khỏi miệng giếng;
- Trường hợp mìn không nổ phải tháo kíp nổ ra khỏi dây nổ hoặc thiết bị truyền nổ và đặt kíp vào trong ống bảo vệ trước khi tháo dây nối ra khỏi mạng nổ mìn. Tiến hành nối ngắn mạch hai đầu dây kíp nổ, rút kíp nổ khỏi ống an toàn và chuyển đến nơi bảo quản theo quy định;
- Tháo mìn câm ra khỏi thiết bị bắn mìn để vào thùng chứa riêng và chuyển đến nơi bảo quản, tiêu huỷ theo quy định;
- Khi thu hồi thiết bị chứa thuốc nổ HMX (cyclo-1,3,5,7-tetramethylene 2,4,6,8-tetranitramine; Octogen) đã ở nhiệt độ > 1500C trong lòng giếng, thiết bị chứa HMX phải được thiết kế đặc biệt để tránh bị biến dạng, nới lỏng khi chịu nhiệt độ > 150 0C.
Các thao tác thu hồi thiết bị chứa thuốc nổ HMX đã ở nhiệt độ > 150 0C trong lòng giếng phải thực hiện cực kỳ thận trọng và phải được sự thỏa thuận của đại diện giàn, kíp nổ phải được tháo ngay lập tức còn thiết bị bắn mìn phải đặt ở khu vực an toàn không nhỏ hơn 24 giờ. Việc tháo mìn ra khỏi thiết bị bắn mìn chỉ được thực hiện tại cơ sở của đơn vị dịch vụ nổ mìn theo hướng dẫn của nhà chế tạo và dưới sự giám sát kỹ thuật viên chuyên ngành;
- Phải kiểm tra nhiệt độ ngoài vỏ thiết bị bắn mìn đối với mìn câm trong giếng khoan có nhiệt độ cao > 150 0C, đề phòng thuốc nổ đang cháy ngầm trong thiết bị bắn mìn khi kéo ra. Nếu thấy vỏ thiết bị bắn mìn nóng bất thường thì phải sơ tán ngay mọi người ra khỏi khu vực nguy hiểm, thông báo cho lãnh đạo giàn và chờ không nhỏ hơn 24 tiếng sau mới được tiếp tục công việc.
3. Nổ mìn sử dụng cần khoan
a) Đơn vị thực hiện nổ mìn phải chuẩn bị các phương tiện, vật liệu nổ, các điều kiện an toàn tuyệt đối cho công việc bắn nổ, việc kiểm tra bao gồm:
- Xây dựng sơ đồ cụ thể cho việc lắp ráp các thiết bị nổ mìn, kiểm tra tình trạng cơ khí của toàn bộ các chi tiết của thiết bị nổ mìn. Thống nhất phương án với các bộ phận liên quan;
- Kiểm tra chi tiết các đầu tác động kích nổ cơ thủy lực gồm: Buồng chứa kíp, kim hoả, các loại chốt, bi hãm và các loại vòng đệm. Cần đập kíp nổ (xà beng) phải có kích thước phù hợp với bộ hạn chế, phía đầu phải lắp tấm đánh dấu bằng đồng, đuôi cần đập phải có cấu tạo phù hợp với thiết bị chụp quả nặng;
- Đầu tác động kích nổ cơ thủy lực phải được thử áp với áp lực gấp 1,2 lần áp lực lớn nhất trong lòng giếng;
- Ống an toàn (spacer) lắp giữa phần đạn nổ trên cùng và đầu tác động kích nổ phải có độ dài không nhỏ hơn 3,0 m để đảm bảo định vị bộ mìn dưới mặt giàn khoan;
- Trường hợp sử dụng cần khoan, không sử dụng kiểu tác động kích nổ bằng điện, các yêu cầu làm việc tuân theo quy định tại khoản 1 Điều này. Không phải cách ly sóng vô tuyến, tắt các thiết bị chạy điện khi nổ mìn sử dụng cần khoan.
b) Lắp thiết bị nổ mìn
- Thực hiện việc loại trừ dòng điện rò theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này đối với trường hợp lắp thiết bị nổ mìn kiểu tác động kích nổ bằng kíp điện;
- Người không có nhiệm vụ lắp thiết bị nổ mìn, đấu nối, nổ mìn không được ở trong khu vực nguy hiểm cho đến khi thiết bị nổ mìn đã hạ xuống 60 m dưới mặt đất hoặc đáy biển. Không được có người ở các vị trí nằm thấp hơn mặt sàn và trong tầm bắn của thiết bị nổ mìn;
- Tháo kíp khỏi bao gói, bảo đảm hai đầu dây dẫn đã nối ngắn mạch;
- Đặt kíp vào ống bảo vệ;
- Kiểm tra bảo đảm điện áp bằng 0 giữa các cọc đấu dây kíp trên thiết bị bắn mìn;
- Gắn kíp nổ vào buồng chứa kíp, lắp cơ cấu bảo vệ và chuyển đến lắp thiết bị bắn nổ;
- Lắp thiết bị bắn nổ bên trên ống an toàn.
c) Thả thiết bị nổ mìn và thực hiện khởi nổ
- Việc thả thiết bị, nổ mìn bằng cần khoan hay ống khai thác phải được kết hợp đồng bộ giữa các bộ phận của đơn vị thực hiện việc nổ mìn, khai thác, khoan và sửa giếng tuân thủ theo các chương mục đã được lập trong phương án;
- Tốc độ thả thiết bị nổ mìn sử dụng cần khoan theo hướng dẫn của nhà sản xuất nhưng không được lớn hơn 1.500 m/h.
Khi thiết bị nổ mìn sử dụng cần khoan đã tới chiều sâu dự kiến, tiến hành thả máy đo xạ tự nhiên, máy CCL để điều chỉnh độ sâu chính xác cho thiết bị bắn mìn sử dụng cần khoan;
- Khi thiết bị nổ mìn đã nằm đúng vị trí theo phương án nổ mìn, bộ phận khoan khai thác tiến hành lắp hệ thống van miệng giếng;
- Chỉ huy nổ mìn thông báo cho toàn giàn và tiến hành cho nổ mìn bằng cách thả cần đập hoặc nén ép bằng áp suất.
d) Thu hồi thiết bị nổ mìn và xử lý mìn câm
- Phải kiểm tra, xác nhận chắc chắn tình trạng thiết bị nổ mìn đã nổ hoàn toàn;
- Thiết bị nổ mìn kích nổ bằng cần đập (xà beng) phải đảm bảo thu hồi cần đập trước khi kéo lên;
- Các thao tác phải rất thận trọng đối với các loại VLNCN có chứa thuốc nổ loại HMX đã ở trong giếng có nhiệt độ > 150 0C;
- Đưa người không liên quan ra khỏi khu vực nguy hiểm khi thiết bị nổ mìn đã kéo lên đến 60 m dưới mặt đất hoặc dưới đáy biển;
- Thực hiện xả áp suất dư trong thiết bị;
- Tháo ngay kíp nổ, cơ cấu bắn nổ, dỡ thiết bị nổ mìn.
đ) Trường hợp mìn không nổ phải lập phương án kéo lên gồm 3 bên là đơn vị thực hiện việc nổ mìn, chủ đầu tư, đại diện của giàn và các bên liên quan. Xử lý mìn câm theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này.
e) Sau khi kết thúc công việc nổ mìn, lập biên bản nổ vụ nổ, Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành phần gồm: Chữ ký người đại diện giàn, tàu khoan; đại diện bên khoan khai thác; người phụ trách đơn vị thực hiện việc nổ mìn và chỉ huy đợt nổ mìn. Tiến hành vệ sinh khu vực làm việc, thu dọn thiết bị và VLNCN, thống kê việc tiêu hao vật tư sắp xếp các loại vật liệu nổ theo đúng chủng loại vào kho di động tại giàn, tàu khoan theo quy định.