Điều 36. Quy định về nổ mìn trong hầm lò
1. Nổ mìn trong hầm lò bằng và hầm lò nghiêng có góc dốc không lớn hơn 300
a) Trước khi bắt đầu nạp mìn, theo hiệu lệnh của thợ mìn, tất cả mọi người trong khu vực gương lò phải rút ra nơi an toàn. Vị trí an toàn phải được thông gió bình thường, tránh được đất đá văng, được chống đỡ chắc chắn. Khi nổ mìn ở trong lò chợ dài trên 30 m độ dốc không lớn hơn 200, cho phép mọi người không phải rút khỏi lò chợ nhưng phải đến khu vực hướng ngược với chiều đi của khí độc sinh ra khi nổ mìn và cách vị trí nổ mìn không nhỏ hơn 50 m. Trong trường hợp độ dốc của lò chợ từ 200 đến 300 cho phép áp dụng quy định đối với lò chợ độ dốc không lớn hơn 20¬0 khi trong 01 đợt nổ không sử dụng lớn hơn 3,0 kg thuốc nổ và phải có biện pháp ngăn vật liệu tự xô xuống phía dưới khi nổ mìn.
b) Việc nổ mìn ở các gương lò sắp thông nhau và các lò nối:
- Kể từ khi 02 gương lò còn cách nhau 20 m, không được nổ mìn đồng thời từ 02 gương đối diện và trước khi nạp mìn, người không có nhiệm vụ nạp, nổ mìn phải rút ra khỏi 02 gương đến vị trí an toàn, đặt trạm gác không cho người vào gương lò nổ mìn và gương đối điện theo quy định;
- Khi 02 gương còn cách nhau 7,0 m, chỉ được tiến hành công tác ở một gương và phải khoan một lỗ khoan thăm dò có chiều sâu lớn hơn chiều sâu của lỗ khoan 1,0 m trở lên;
- Khi nổ mìn ở lò nối, phải đo chính xác khoảng cách còn lại của trụ than, quặng. Khi chiều dày của trụ còn lại 7,0 m, tất cả mọi người ở vị trí lò sẽ nối thông nhau và gương độc đạo của lò này phải rút ra nơi an toàn và phải đặt các trạm gác ở giới hạn nguy hiểm. Ngoài các quy định trên, phải tiến hành đo khí, thông gió trong các hầm lò có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ theo quy định của QCVN 01:2011/BCT;
- Khi nổ mìn ở gương của 01 trong 02 lò đào song song và cách nhau không lớn hơn 20 m, tất cả mọi người phải rút ra khỏi 02 gương đến vị trí an toàn.
Trong các trường hợp nêu trên, chỉ được khởi nổ sau khi đã nhận được thông báo mọi người đã rút hết khỏi gương lò đối điện và đã đặt trạm gác bảo vệ. Chỉ sau khi nổ mìn xong và được lệnh của người trực tiếp nổ mìn mới được bỏ trạm gác ở gương lò đối diện.
c) Không được nổ mìn ở địa điểm cách kho VLNCN hầm lò nhỏ hơn 30 m đối với kho không có người làm việc và 100 m đối với kho có người đang làm việc.
d) Không được nổ mìn khi trong khoảng 20 m kể từ vị trí nổ mìn đi ra ngoài còn có đất đá chưa xúc hết, các toa xe, đồ vật chiếm trên 1/3 tiết diện ngang của lò làm cản trở việc thông gió và lối rút ra nơi an toàn của thợ mìn.
đ) Không được nạp và nổ mìn trong gương lò mà có khoảng chưa chống lớn hơn quy định trong thiết kế chống lò hoặc khi vì chống ở gương đã bị hư hỏng.
e) Khi nổ mìn trong lò bằng, lò nghiêng có độ dốc không lớn hơn 300, đào lò chuẩn bị hoặc đào các công trình ngầm được áp dụng tất cả các phương pháp nổ mìn (trừ việc nổ mìn trong hầm lò khi khai thác than, quặng có nguy hiểm về khí, bụi nổ). Khi nổ mìn bằng dây cháy chậm không được nổ lớn hơn 16 phát trong một đợt.
Được khởi nổ vừa bằng ống đốt vừa bằng ngòi mìn riêng lẻ với tổng số các loại không lớn hơn 16, trong đó không lớn hơn 06 ống đốt cho 01 gương lò. Chỉ được khởi nổ bằng điện hoặc bằng dây nổ đối với trường hợp khởi nổ nhiều hơn 16 phát mìn trong một đợt nổ.
g) Không hạn chế số lượng phát mìn được nổ đồng thời đối với trường hợp nổ mìn bằng dây cháy chậm ở trong các lò chợ dài hơn 50 m, chiều cao khấu lớn hơn 1,8 m có nóc, nền ổn định và có độ dốc nhỏ hơn 200. Trình tự đốt các phát mìn phải có chiều ngược với chiều đi của hướng gió.
h) Chỉ được nổ mìn bằng dây nổ hoặc bằng điện trong các lò nghiêng có độ dốc lớn hơn 300. Việc khởi nổ các phát mìn phải tiến hành từ nơi an toàn.
k) Khi nổ mìn bằng dây cháy chậm, cho phép 01 thợ mìn đốt các ngòi mìn. Trường hợp đào lò có gương rộng hơn 5,0 m cho phép 02 thợ mìn cùng đốt và phải tuân theo quy định tại điểm e khoản này và điểm c khoản 1 Điều 34 của Quy chuẩn này.
l) Lượng không khí sạch đưa vào mỗi gương lò có nổ mìn phải đảm bảo để sau khi thông gió không quá 30 min lượng khí độc sinh ra do nổ mìn tại đường lò người đi vào gương làm việc giảm xuống còn không lớn hơn 60 ppm (tính theo thể tích) khi tính chuyển đổi sang cacbon oxit quy ước.
m) Việc thông gió cho gương vừa nổ mìn phải đảm bảo tối đa sau 02 giờ, kể từ khi đưa người vào làm việc, hàm lượng không khí (ôxi, cacboníc, cacbon oxit) và nhiệt độ phải theo quy định của QCVN 01:2011/BCT.
n) Khi nổ mìn để phá đá quá cỡ, thông tắc cho các lò tháo quặng phải tiến hành theo quy định riêng, được lãnh đạo đơn vị phê duyệt.
2. Nổ mìn trong giếng đứng
a) Chỉ được nổ mìn bằng điện, phi điện hoặc dây nổ khi đào và đào sâu thêm giếng đứng. Người khởi nổ các phát mìn phải ở trên mặt đất hoặc ở mức đang khai thác trong các lò có gió sạch đi qua.
b) Chỉ được chuẩn bị mìn mồi ở trên mặt đất cách các công trình cần bảo vệ theo quy định tại khoản 7 Điều 5 của Quy chuẩn này và cách miệng giếng đang đào lớn hơn 50 m.
Cho phép chuẩn bị mìn mồi ở trong cúp riêng của một trong các mức đang khai thác của mỏ khi đào sâu thêm giếng mỏ.
c) Phải sử dụng thùng cũi để đưa các bao mìn mồi xuống giếng. Các bao mìn mồi phải xếp trong các hòm đựng chuyên dùng. Không được sử dụng thùng trục kiểu tự lật, kiểu thùng dỡ hàng qua đáy. Tốc độ chuyển động của thùng trục không được lớn hơn 1,0 m/s đối với thùng trục không có đường định hướng và không được lớn hơn 2,0 m/s đối với thùng trục có đường định hướng.
d) Không được vận chuyển người (trừ người thợ mìn mang xách mìn mồi) cùng thuốc nổ trong thùng cũi đưa các bao mìn mồi xuống giếng. Số lượng mìn mồi chỉ cần đủ cho đợt nổ đó.
đ) Không được có người trong giếng ngoài thợ thi công nổ mìn và thợ vận hành bơm nước khi đưa VLNCN xuống giếng đang đào sâu thêm.
e) Mạng điện nổ mìn trong gương giếng đứng phải được lắp ráp theo kiểu anten. Các cọc để đặt dây anten phải đủ chiều cao để anten không bị ngập khi nước thoát ra. Đường dây chính của mạng điện nổ mìn phải dùng loại cáp điện mềm có vỏ bọc chịu nước. Không được sử dụng kíp điện có dây dẫn ngắn hơn 2,5 m và có vỏ cách điện không chịu nước. Chỉ được lắp ráp mạng điện nổ mìn sau khi tất cả công nhân đã rời khỏi giếng mỏ.
g) Trong thời gian đưa thuốc nổ xuống giếng và trong lúc nạp mìn chỉ cho phép người dẫn hướng thùng trục có mặt trên sàn công tác. Trong thời gian nạp mìn, không được làm bất cứ việc gì trên sàn công tác.
h) Sau khi nạp và đấu nối mạng điện nổ mìn, khi rút lên mặt đất, phải mở tất cả các cửa nắp đậy miệng giếng tại sàn công tác và không cho phép có người trong nhà tháp giếng, trừ người có trách nhiệm ở lại để khởi nổ.
3. Nổ mìn trong hầm lò than có khí hoặc bụi nổ
a) Chỉ được tiến hành công tác nổ mìn với các điều kiện sau:
- Các gương lò phải được thông gió liên tục bằng luồng gió sạch, lưu lượng và tốc độ không khí phải phù hợp với quy định tại QCVN 01:2011/BCT;
- VLNCN, máy nổ mìn, dụng cụ đo điện trở của mạng nổ là loại an toàn trong môi trường khí, bụi nổ.
b) Việc nổ mìn tại các gương lò chuẩn bị mà gió thải từ đó sẽ đi qua gương khấu than, phải tiến hành vào thời gian giao ca hoặc trong ca chuẩn bị sản xuất, lúc đó mọi người phải ra khỏi gương khấu than đến chỗ có gió sạch đi qua và cách chỗ nổ mìn không ít hơn 200 m. Yêu cầu này không phải áp dụng khi sử dụng phương tiện nổ là loại an toàn trong môi trường khí, bụi nổ.
c) Trong các mỏ hầm lò có cấp nguy hiểm về khí mêtan từ cấp 03 đến cấp siêu hạng, công tác nổ mìn ở trong than và trong đá được quy định cụ thể riêng cho phù hợp với thực tế từng mỏ nhằm đảm bảo an toàn và không được trái với những quy định trong Quy chuẩn này.
Khi khấu các trụ than phía trên lò dọc vỉa thông gió đồng thời với việc khai thác ở lò chợ của phân tầng dưới, việc nổ mìn đào các lò chuẩn bị để khấu trụ than chỉ được tiến hành vào thời gian ngừng mọi công việc ở lò chợ và mọi người phải rời đến nơi an toàn.
d) Trong các hầm lò có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ, cho phép sử dụng kíp nổ điện vi sai an toàn để nổ mìn trong các gương than, gương vừa đá vừa than với các điều kiện sau:
- Thời gian chậm tối đa của các kíp điện vi sai có tính đến độ chậm sai số không được vượt quá 135 ms;
- Các gương than của lò chuẩn bị được đào bằng gương hẹp thì toàn bộ các phát mìn phải được khởi nổ trong một đợt;
- Các lò chuẩn bị than được đào bằng gương rộng không đánh rạch bằng máy, các phát mìn phải được khởi nổ trong cùng 01 đợt. Khi chiều rộng của gương lớn hơn 5 m, cho phép chia phát mìn ra thành 2 đợt (chia đợt nổ theo chiều rộng gương) và chỉ cho phép nạp mìn các lỗ khoan của đợt nổ thứ hai sau khi đã nổ xong đợt một và xúc dọn hết than trong gương;
- Các lò chuẩn bị đào trong than có cắt đá vách hoặc đá trụ, việc nổ các phát mìn trong than, trong đá có thể chia thành 02 đợt riêng hoặc nổ đồng thời. Trường hợp chia thành 02 đợt nổ thì phải theo hộ chiếu nổ mìn. Chỉ nạp và nổ các phát mìn sau khi đã thông gió gương lò, xúc dọn than ở gương, đo khí, rải bụi trơ ở gương và các đoạn lò dẫn đến gương (đối với mỏ có nguy hiểm về bụi nổ) và thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho những công việc tiếp sau ở gương;
- Không được chia thành 03 đợt nổ trở lên;
- Các trường hợp đã nêu trên, các lỗ mìn đã nạp đều phải nổ đồng thời. Ngoài ra chỉ được khởi nổ các phát mìn khi ở cách gương trong vòng 10 m không có các đống than đã nổ. Trước mỗi lần nổ phải đo khí, phun nước làm ẩm bụi hoặc rải bụi trơ (nếu là mỏ nguy hiểm về bụi ở gương) một đoạn khoảng 20 m từ vị trí nổ mìn trở ra.
đ) Các gương lò chỉ đào trong đá ở mỏ có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ, nếu hoàn toàn không có bụi than và hàm lượng khí mêtan đo kiểm tra liên tục 14 ngày tại gương sau khi nổ có giá trị nhỏ hơn 1,0 %, cho phép sử dụng kíp nổ điện tức thời hoặc kíp nổ vi sai và không hạn chế số lượng đợt nổ. Thời gian chậm tối đa của kíp điện vi sai (có tính cả độ chậm sai số không lớn hơn 195 ms).
e) Không được sử dụng các kíp nổ chậm trong các gương lò than và gương lò than có lẫn đá ở các mỏ hầm lò có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ.
g) Cho phép sử dụng một lượng nhỏ thuốc nổ an toàn để phá rời các vì chống gỗ khi đánh sập đá vách của các gương khấu than. Loại thuốc nổ an toàn này phải được thử nghiệm ở trạng thái treo tự do khi nổ đảm bảo không làm bốc cháy hỗn hợp không khí - khí mêtan - bụi than và có biên bản thử nghiệm.
h) Cho phép sử dụng thuốc nổ không thuộc loại an toàn về khí, bụi nổ và kíp nổ chậm khi đào giếng đứng từ mặt đất ở mỏ nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ, trường hợp hàm lượng khí mêtan ở trong gương nhỏ hơn 1,0 % và phải thực hiện các quy định sau:
- Trước khi nổ mìn phải đo hàm lượng khí mêtan ở gương giếng;
- Trước khi khởi nổ phải làm ngập nước mặt gương với chiều cao cột nước không nhỏ hơn 20 cm tính từ điểm cao nhất của mặt gương:
- Việc khởi nổ phải tiến hành từ trên mặt đất. Không được có người trong phạm vi 50 m tính từ miệng giếng.
k) Cho phép sử dụng dòng điện xoay chiều hoặc một chiều làm nguồn điện khởi nổ khi đào lò giếng từ mặt đất với các điều kiện sau:
- Trong gương của giếng mỏ không có khí mêtan hoặc bụi than;
- Không được sử dụng dòng điện xoay chiều để nổ mìn khi gương của giếng mỏ cách vỉa than hoặc vỉa than kẹp nhỏ hơn 5,0 m và sau khi gương giếng đã cắt qua trụ vỉa than nhỏ hơn 20 m;
Trị số dòng điện phát vào mạng lưới nổ phải phù hợp với điểm s khoản 3 Điều 34 của Quy chuẩn này.
l) Cho phép sử dụng thuốc nổ không thuộc loại an toàn về khí, bụi nổ và kíp điện nổ chậm khi đào sâu giếng mỏ đi trong đá ở những mỏ hầm lò có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ, đi từ mức đang khai thác cũng như khi đã đào lò bằng, lò nghiêng ở những mỏ đang khai thác hoặc đang xây dựng với các điều kiện sau:
- Các hầm lò phải được thông gió bằng luồng không khí sạch;
- Gương lò chỉ hoàn toàn đào trong đá;
- Gương lò không thoát khí mêtan;
- Phải đo khí mêtan trước khi nạp và trước mỗi lần khởi nổ đảm bảo nhỏ hơn 1,0 %.
Phải sử dụng VLNCN loại an toàn trong môi trường có khí, bụi nổ khi giếng mỏ cách vỉa than hoặc vỉa than kẹp nhỏ hơn 5,0 m và sau khi gương giếng đã cắt qua trụ vỉa than nhỏ hơn 20 m.
m) Trong một đợt nổ, chỉ được sử dụng kíp nổ điện cùng loại do một cơ sở sản xuất.
n) Trong các hầm lò than, không được sử dụng các loại thuốc nổ khác nhau để nạp vào một lỗ khoan. Phát mìn liên tục chỉ được sử dụng một bao mìn mồi có lắp kíp nổ điện.
o) Chiều sâu của lỗ khoan nhỏ trong than và trong đá không được nhỏ hơn 0,6 m. Khi trong gương lò có một số mặt tự do thì khoảng cách từ một điểm bất kỳ của phát mìn đến bề mặt tự do gần nhất (đường cản ngắn nhất) không được nhỏ hơn 50 cm trong than và 30 cm trong đá.
Không được nổ các phát mìn không có bua nút lỗ.
Khi nổ mìn trong than và đá, chiều dài nút bua quy định như sau:
- Bằng 1/2 chiều sâu lỗ khoan khi chiều sâu lỗ khoan từ 0,6 m đến 1,0 m;
- Không nhỏ hơn 0,5 m khi chiều sâu lỗ khoan lớn hơn 1,0 m;
- Không nhỏ hơn 1,0 m khi sử dụng các lỗ khoan lớn;
- Không được nhỏ hơn 30 cm khi nổ các phát mìn lỗ khoan nhỏ để phá các tảng đá lớn.
p) Trường hợp phát mìn gồm nhiều thỏi thuốc nổ, các thỏi thuốc nổ phải được đẩy cùng một lúc vào lỗ khoan còn thỏi mìn mồi được đưa riêng.
q) Khoảng cách nhỏ nhất giữa các phát mìn khi nổ mìn lỗ khoan nhỏ được quy định như sau:
- Không nhỏ hơn 0,6 m khi nổ trong than;
- Không nhỏ hơn 0,3 m khi nổ trong đá có độ kiên cố (cứng) f không nhỏ hơn 7 theo thang phân loại của Protodiakonov;
- Không nhỏ hơn 0,45 m khi nổ trong đá có độ kiên cố (cứng) f nhỏ hơn 7.
r) Trong các hầm lò than và trong các mỏ hầm lò có nguy hiểm về bụi lưu huỳnh, khi đào các lò chuẩn bị, họng sáo trong than hoặc vừa than vừa đá thuộc các vỉa có độ thoát khí tương đối lớn hơn 10 m3/tấn sản lượng ngày đêm, cũng như ở các vỉa có nguy hiểm về bụi nổ, khi nổ mìn phải áp dụng các biện pháp an toàn bổ sung được thể hiện trong hộ chiếu nổ mìn như sử dụng các túi nước treo, nút lỗ mìn bằng bua nước.
s) Không được nổ mìn ốp trong hầm lò. Cho phép nổ một lượng thuốc nổ an toàn để xử lý sự cố tắc trong các lò tháo than, đá với điều kiện tại đó không có khí mêtan.
t) Khi nổ mìn bằng điện
- Các dụng cụ để kiểm tra - đo lường mạng điện nổ mìn phải là loại chuyên dùng cho các mỏ hầm lò nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ;
- Việc đo kiểm tra kín mạch của mạng điện nổ mìn phải được tiến hành tại nơi đặt máy nổ mìn để khởi nổ, vị trí đặt máy nổ mìn phải an toàn và có luồng gió sạch đi qua.