Điều 37. Quy định về nổ mìn trên mặt đất
1. Quy định chung
a) Trước khi tiến hành nổ mìn lần đầu ở địa điểm đã được phép, đơn vị nổ mìn phải thông báo chậm nhất trước 01 ngày đêm cho chính quyền, Công an địa phương và cho mọi người sống hoặc làm việc ở trong vùng nguy hiểm của khu vực nổ mìn và vùng giáp ranh (vùng có bán kính gấp hai lần bán kính vùng nguy hiểm) biết về địa điểm, thời gian nổ mìn lần đầu, hàng ngày; giới hạn của vùng nguy hiểm, ý nghĩa của các tín hiệu dùng khi nổ mìn.
b) Khi nổ mìn lỗ khoan lớn, nổ mìn buồng cho phép sử dụng người phục vụ đã được huấn luyện kỹ thuật an toàn VLNCN tham gia việc thi công nổ mìn và phải có sự giám sát của thợ mìn.
c) Người được giao nhiệm vụ khởi nổ phải ở vị trí trú ẩn an toàn như: Trong hầm trú ẩn tự nhiên hoặc buồng trú ẩn nhân tạo có mái che chắc chắn chống được đá văng nằm ngoài vùng nguy hiểm. Vị trí trú ẩn của người khởi nổ phải được thể hiện trong bản thiết kế, phương án nổ và hộ chiếu nổ mìn.
d) Trạm khởi nổ phải đặt ngoài giới hạn vùng nguy hiểm hoặc trong hầm chắc chắn để thực hiện khởi nổ. Trạm khởi nổ có thể là hầm trú ẩn tự nhiên hoặc buồng trú ẩn nhân tạo có mái che chắc chắn chống được đá văng nằm ngoài vùng nguy hiểm về phía ngược với chiều gió, khi nổ mìn văng xa thì trạm khởi nổ phải có vị trí ở ngoài giới hạn văng xa của đất đá theo tính toán lựa chọn.
đ) Kể từ lúc kéo dây của mạng nổ mìn vào trạm khởi nổ, trạm phải được bảo vệ. Chỉ người thợ mìn được giao nhiệm vụ khởi nổ được vào trạm khởi nổ.
e) Khi nổ các phát mìn lỗ khoan nhỏ bằng dây cháy chậm, số lượng ngòi mìn do một thợ mìn đốt được xác định bằng thời gian cháy của ngòi mìn kiểm tra.
g) Trong khi nạp, nếu một phần thuốc nổ đã nạp vào lỗ khoan bị đất đá lở lấp mất, cần nạp tiếp và cho nổ cùng đợt. Phải kiểm tra lượng thuốc nổ còn sót lại và thu gom, đem hủy (nếu có).
h) Trường hợp các phát mìn tại vị trí khó nhận biết (trong bụi rậm), khi nổ bằng dây cháy chậm, phải đặt các dấu hiệu dễ nhận ở các phát mìn.
2. Nổ mìn ốp
Khi cần nổ một số phát mìn ốp trong một đợt nổ bằng dây cháy chậm thì khoảng cách giữa các phát mìn phải đảm bảo sao cho khi phát này nổ sẽ không làm tung phát kia. Trường hợp không đảm bảo khoảng cách nêu trên, phải khởi nổ đồng thời các phát mìn bằng các kíp nổ điện hoặc bằng dây nổ. Vật liệu đắp lên phát mìn phải bằng vật liệu dẻo, phải áp kín hoàn toàn. Chiều dày đất đắp không nhỏ hơn chiều dày lớp thuốc nổ ốp. Không được sử dụng đá dăm hoặc vật liệu rắn khác để phủ lên lớp thuốc nổ.
3. Nổ mìn lỗ khoan lớn
a) Phải dọn sạch đất đá, các vật liệu khác trong vòng bán kính không nhỏ hơn 0,7 m tính từ mép lỗ khoan và có biện pháp bảo vệ miệng lỗ khoan khỏi bị sụt lở.
b) Mỗi tâm khởi nổ chỉ được thiết kế cho đoạn thuốc nổ có chiều dài không lớn hơn 5,0 m trong lỗ khoan lớn.
c) Khi nạp mìn vào lỗ khoan phải phải hướng đáy lõm của kíp về phần chiều dài cột thuốc, không được giật, ném, quăng, không được dùng gậy ấn mạnh vào mồi nổ, không được để dây nổ, dây phi điện hoặc dây điện bị kéo căng quá mức trong quá trình nạp thuốc hoặc xử lý tình huống khi nạp mìn. Các khối mồi nổ phải đặt ở gần đáy lỗ hoặc ở khoảng trung tâm của khối thuốc nổ trong lỗ mìn. Cho phép nạp thỏi thuốc mồi hoặc khối mồi nổ đầu tiên xuống đáy lỗ khoan.
d) Không phóng, thả trực tiếp thỏi thuốc liền kề với thỏi thuốc mồi hoặc khối mồi nổ đã nạp khi chiều sâu của thỏi thuốc mồi hoặc khối mồi nổ ở vị trí lớn hơn 2,0 m, phải sử dụng dây buộc riêng để đưa thỏi thuốc nổ xuống lỗ khoan. Không được sử dụng lực mạnh để nhồi thuốc nổ vào trong lỗ khoan hoặc nhồi thuốc vào chạm một vật cản nào đó trong lỗ khoan.
Khi nạp thuốc nổ không chịu nước ở lỗ khoan ẩm hoặc có nước thì phải có biện pháp ngăn nước xâm nhập vào cột hoặc thỏi thuốc nổ; Phải thường xuyên kiểm tra chiều sâu còn lại của lỗ mìn để đảm bảo mật độ nạp và các thỏi thuốc nổ phải kế cận nhau trong 01 tâm nổ.
đ) Cho phép sử dụng ô tô tự đổ có bình dập lửa và ống xả có trang bị bộ phận dập tắt tàn lửa để nạp bua vào các lỗ khoan khi sử dụng thuốc nổ nhóm 1.1 D, 1.5 D không sử dụng kíp khởi nổ. Phải có biện pháp để các phụ kiện, dây nối mạng nổ không bị xe ô tô đè ép, kéo căng.
4. Nổ mìn tạo túi ở đáy lỗ khoan hoặc làm khô lỗ
a) Chỉ được nổ phát mìn để tạo túi hoặc làm khô nước trong lỗ khoan khi các lỗ khoan kề sát xung quanh chưa nạp thuốc nổ.
b) Không được ném bao mìn mồi vào lỗ khoan khi nổ tạo túi hoặc nổ làm khô nước.
c) Chỉ được nạp thuốc nổ sau khi nổ tạo túi hoặc làm khô lỗ khoan phải đợt không nhỏ hơn 15 min đối với trường hợp sử dụng thuốc nổ nhóm 1.1D, 1.5D và 30 min đối với trường hợp sử dụng thuốc nổ các nhóm khác.
5. Nổ mìn buồng
a) Vị trí nạp thuốc khi nổ mìn buồng phải được thể hiện trên bản vẽ địa hình thực tế.
b) Tiết diện trong của lò đào thông từ mặt đất tới buồng mìn không được nhỏ hơn 1,2 m2 (1,2 m x 1,0 m). Trường hợp đào thông vào buồng mìn là lò giếng, lò phải có tiết diện nhỏ nhất là 1,0 m2. Trước khi bắt đầu nạp thuốc nổ, phải kiểm tra, củng cố toàn bộ đường lò để đảm bảo an toàn trong suốt quá trình nạp.
c) Trong phạm vi bán kính 0,7 m kể từ cửa lò, phải dọn sạch đất đá, vật dụng khác. Cách cửa lò hoặc miệng giếng không nhỏ hơn 3,0 m phải tạo mặt bằng để xếp VLNCN trước khi nạp.
d) Phải sử dụng tời hoặc dây để thả VLNCN xuống giếng dẫn vào buồng mìn với vận tốc không được lớn hơn 1,0 m/s. Cho phép nạp thuốc nổ nhóm 1.1D, 1.5D dạng rời theo đường ống hoặc lỗ khoan lớn thẳng xuống buồng mìn; đường ống phải chế tạo bằng vật liệu không phát sinh tia lửa khi bị va chạm hoặc ma sát.
đ) Khi xếp thuốc nổ vào buồng mìn, người chỉ huy đợt nổ phải luôn có mặt tại hiện trường để hướng dẫn, kiểm tra và thi công đúng với thiết kế.
e) Không được để các dây dẫn điện ở trong các buồng mìn khi nạp thuốc nổ; cho phép sử dụng đèn chiếu từ đường lò bên cạnh chiếu sang buồng mìn trước lúc đưa mìn mồi đã lắp kíp điện vào buồng mìn đối với trường hợp chiếu sáng bằng điện.
Phải cắt điện, tháo cắt tất cả mạng điện chiếu sáng trước lúc đưa mìn mồi vào lò. Chỉ được sử dụng đèn ắc quy, đèn pin dạng phòng nổ để chiếu sáng.
g) Mìn mồi khi nổ mìn buồng phải là thuốc nổ chịu nước (hoặc được bao gói chống nước).
h) Trường hợp giếng sâu hơn 15 m, phải sử dụng tời trục có phanh hãm đảm bảo an toàn để chở người.
k) Trường hợp trong giếng có đặt máy bơm điện, phải cắt điện, đưa tất cả thiết bị điện lên khỏi giếng trước khi đưa bao mìn mồi có lắp kíp điện xuống giếng.
l) Phải bảo vệ tránh hư hỏng dây dẫn điện của mạng điện nổ và dây nổ trong đường lò và trên mặt đất. Mạng nổ phải là mạng lưới có 02 dây dẫn.
m) Phải đo kiểm tra điện trở của mạng điện nổ mìn 02 lần khi mọi người ở vị trí an toàn: Lần đầu vào lúc nạp xong thuốc nổ, lấn thứ hai vào lúc nạp xong bua.
n) Sau khi mìn nổ không nhỏ hơn 15 min (thời gian cụ thể được quy định trong thiết kế nổ mìn) người chỉ huy đợt nổ mới được vào kiểm tra bãi nổ.
o) Khi phát hiện mìn câm, phải bố trí người bảo vệ, không cho người không có liên quan vào vùng nguy hiểm của phát mìn câm.
Cho phép xử lý phát mìn buồng bị câm bằng cách đào dỡ lớp bua ra, nạp một bao mìn mồi mới vào phát mìn câm, lấp bua, tiến hành khởi nổ lại với điều kiện đường cản nhỏ nhất của phát mìn câm không bị nhỏ hơn đường cản tính toán ban đầu trước khi nổ.
Trường hợp đường cản nhỏ nhất của phát mìn câm nhỏ hơn đường cản tính toán ban đầu, không được nổ lại phát mìn câm và cho phép moi dỡ lớp bua, moi dỡ dần thuốc nổ ra.
Trong trường hợp cần thiết phải đào các đường lò bổ sung để xử lý các phát mìn buồng bị câm, phải thực hiện theo thiết kế được người quản lý phê duyệt.
Toàn bộ công việc có liên quan tới việc xử lý mìn buồng câm phải thực hiện dưới sự giám sát của chỉ huy nổ mìn.