Điều 32. Quy định chung về sử dụng VLNCN
1. Lập phương án nổ mìn và hộ chiếu nổ mìn
a) Phải lập phương án nổ mìn theo quy định pháp luật về quản lý VLNCN trước khi thực hiện nổ mìn. Hộ chiếu nổ mìn phải lập cho mỗi lần thi công nổ mìn, trừ những trường hợp quy định tại điểm c khoản này.
b) Trường hợp nổ mìn trong khu vực dân cư, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, khu vực có di tích lịch sử - văn hóa, bảo tồn thiên nhiên, công trình an ninh, quốc phòng hoặc công trình quan trọng khác của quốc gia, khu vực bảo vệ khác theo quy định của pháp luật có khoảng cách an toàn không đảm bảo quy định tại khoản 7 Điều 5 của Quy chuẩn này, phương án nổ mìn phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được sự đồng ý bằng văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan quản lý và thực hiện giám sát ảnh hưởng nổ mìn theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 41 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Tổ chức sử dụng VLNCN phải có thỏa thuận về các biện pháp bảo vệ, che chắn hoặc phương án khắc phục các thiệt hại do nổ mìn (nếu có) gây ra với tổ chức, cá nhân quản lý, sở hữu công trình, tài sản nêu trên. Thoả thuận phải được thực hiện không nhỏ hơn 15 ngày trước khi tiến hành nổ mìn, nội dung bản thỏa thuận phải nêu rõ hiện trạng công trình, các hư hỏng sẵn có, nguồn nước cũng như các vật kiến trúc khác có thể bị ảnh hưởng do nổ mìn.
c) Được nổ mìn không phải lập hộ chiếu nổ mìn khi đáp ứng các biện pháp an toàn theo quy định của Quy chuẩn này và được phép của người quản lý về VLNCN của tổ chức sử dụng VLNCN trong các trường hợp sau:
- Nổ các phát mìn để hiệu chỉnh chu vi gương lò theo Hộ chiếu đào chống lò; nổ để hạ nền lò mở rộng tiết diện lò khi chống xén;
- Nổ để giải quyết các tảng đá treo trên gương tầng;
- Nổ để giải quyết sự cố trong quá trình khoan lỗ mìn (nổ làm khô lỗ khoan, nổ chống trượt, cứu giắt ty choòng khoan trừ những trường hợp trong thăm dò khai thác dầu khí);
- Nổ mìn để xử lý mìn câm.
2. Phải đặt biển báo nguy hiểm “Đang nổ mìn - Cấm vào" hoặc các trạm gác tại vị trí có thể tiếp cận đến bãi mìn thi công và phải đáp ứng quy định sau:
a) Trường hợp nổ mìn lộ thiên: Vị trí đặt biển báo trạm hoặc trạm gác phải đảm bảo dễ quan sát, thuận tiện ngăn người không có nhiệm vụ đi vào khu vực nổ mìn và cách vị trí nổ mìn không nhỏ hơn khoảng cách an toàn về đá văng. Trường hợp phương án nổ mìn được phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, vị trí đặt biển báo hoặc trạm gác cách vị trí nổ mìn không được nhỏ hơn 100 m. Những người gác mìn là thợ mìn hoặc người phục vụ.
b) Trường hợp nổ mìn trong hầm lò, công trình ngầm: Trước khi bắt đầu nạp mìn chỉ cần đặt biển báo tại các trạm gác dự kiến, trước khi khởi nổ phải có người gác mìn tại các trạm gác.
Cho phép thay thế người gác bằng cách đặt biển báo tại các vị trí gác mìn nằm trên các đường lò có khí sinh ra do nổ mìn. Chỉ được cất biển báo khi đường lò được thông gió, kiểm tra đảm bảo an toàn sau nổ mìn.
c) Khi nổ mìn trong thăm dò, khai thác dầu khí, trước khi bắt đầu công tác chuẩn bị nạp nổ phải đặt biển báo cách miệng giếng khoan không được nhỏ hơn 15 m.
3. Tín hiệu nổ mìn
Khi tiến hành nổ mìn, phải sử dụng tín hiệu để báo lệnh nổ mìn; sử dụng tín hiệu âm thanh đối với trường hợp nổ mìn vào ban ngày ở trên mặt đất, trong hầm lò; sử dung tín hiệu âm thanh và ánh sáng đối với trường hợp nổ mìn lúc tối trời ở trên mặt đất. Tín hiệu phải đủ lớn để đảm bảo tất cả các vị trí gác đều nghe hoặc nhìn thấy rõ và phải tuân thủ các quy định sau:
a) Đối với nổ mìn trong hầm lò và công trình ngầm
Tín hiệu âm thanh do thợ mìn hoặc nhóm trưởng thợ mìn phát theo trình tự sau đây:
- Tín hiệu thứ nhất: Tín hiệu đề phòng, bằng một hồi còi dài. Theo tín hiệu này, tất cả mọi người không liên quan đến việc nạp, nổ mìn phải rút ra khỏi giới hạn vùng nguy hiểm hoặc đến vị trí an toàn dưới sự chỉ dẫn, giám sát của người chỉ huy đợt nổ.
Trong thời gian nạp mìn, chỉ cho phép người có trách nhiệm kiểm tra vào vị trí nạp mìn.
Sau khi nạp xong, những người nạp mìn phải ra ngoài vùng nguy hiểm. Khi nổ mìn ở khu vực có nguy cơ phát sinh khí, bụi nổ, người chỉ huy nổ mìn phải kiểm tra kết quả đo khí mêtan của gương hầm/lò đang thi công và chỉ được đấu nối mạng nổ mìn đối với trường hợp nồng độ khí mêtan nhỏ hơn 1,0 %;
- Tín hiệu thứ hai: Tín hiệu khởi nổ, bằng hai hồi còi dài. Theo tín hiệu này, người thợ mìn được giao nhiệm vụ đốt dây cháy chậm mới được châm ngòi mìn và rút ra vị trí an toàn, khi khởi nổ bằng điện hoặc phi điện người khởi nổ phải ở vị trí an toàn;
- Tín hiệu thứ ba: Tín hiệu báo yên, bằng ba hồi còi ngắn. Tín hiệu này được phát ra sau khi đã kiểm tra gương nổ, báo công việc nổ đã kết thúc và đảm bảo an toàn.
Trường hợp nổ mìn trong hầm, lò, công trình ngầm không đạt kết quả theo yêu cầu phải nổ lại, cho phép hợp nhất tín hiệu thứ nhất và thứ hai bằng cách liên tục thổi còi. Sau khi nổ xong phải phát tín hiệu báo yên.
b) Đối với nổ mìn lộ thiên
Tín hiệu âm thanh do chỉ huy nổ mìn ra lệnh cho thợ mìn phát tín hiệu theo trình tự sau đây:
- Tín hiệu thứ nhất: Tín hiệu nạp mìn, bằng một hồi còi dài hoặc bằng một phát mìn tín hiệu hoặc một phát súng tín hiệu. Theo tín hiệu này, tất cả mọi người không liên quan đến việc nạp, nổ mìn, thiết bị máy móc phải di chuyển ra khỏi giới hạn vùng nguy hiểm hoặc đến vị trí an toàn dưới sự chỉ dẫn, giám sát của người chỉ huy đợt nổ.
Trong thời gian nạp mìn, chỉ cho phép người có trách nhiệm kiểm tra vào vị trí khu vực bãi mìn đang thi công nạp mìn. Trường hợp thi công bãi nổ mìn bằng phương pháp nổ mìn buồng hoặc những bãi nổ mìn đòi hỏi công việc nạp mìn phải thực hiện trong một thời gian dài, cho phép có một số thiết bị và người vận hành thiết bị được hoạt động trong khoảng cách không nhỏ hơn 50 m đến phát mìn gần nhất trước lúc bắt đầu đấu nối mạng nổ.
Sau khi nạp xong, người nạp mìn và thiết bị đã ra ngoài vùng nguy hiểm, chỉ huy nổ mìn mới được giao cho thợ mìn đấu nối mạng nổ, sau kiểm tra việc đấu nối mạng nổ xong, từ vị trí an toàn để quan sát các vị trí cảnh giới (trạm gác) và bãi mìn chờ nổ, chỉ huy nổ mìn đã nhận được thông báo hoặc tín hiệu quy ước báo về từ tất cả các trạm gác đã canh gác an toàn, lúc đó chỉ huy nổ mìn mới được ra lệnh cho thợ nổ mìn đấu mạng nổ với dây trục chính nếu là nổ mìn điện, nổ mìn bằng phương tiện nổ phi điện hoặc nổ bằng dây nổ khi dùng kíp điện để khởi nổ.
- Tín hiệu thứ hai: Tín hiệu khởi nổ, bằng hai tín hiệu âm thanh liên tiếp. Theo tín hiệu này, thợ mìn bắt đầu đốt ngòi kiểm tra và tiếp tục châm mìn ngòi của các lỗ mìn rồi rút ra vị trí an toàn hoặc chỉ huy nổ mìn ra lệnh khởi nổ các mạng nổ mìn khác.
- Tín hiệu thứ ba: Tín hiệu báo yên, bằng ba tín hiệu âm thanh liên tiếp. Tín hiệu này được phát ra sau khi đã kiểm tra bãi nổ, báo công việc nổ đã kết thúc và đảm bảo an toàn.
Trường hợp bãi mìn có địa hình rộng, địa hình phức tạp, người chỉ huy nổ mìn được quy định bổ sung các tín hiệu phù hợp nhưng không được lớn hơn 05 tín hiệu.
Trường hợp nhiều đơn vị nổ mìn ở gần nhau, có chồng lấn về bán kính an toàn khi nổ mìn, phải có biên bản thống nhất cụ thể về quy định, thời gian và tín hiệu nổ mìn để đảm bảo an toàn trong toàn bộ khu vực ảnh hưởng của nổ mìn với đầy đủ chữ ký của người có trách nhiệm của các đơn vị.
Phương pháp và thời gian phát tín hiệu, ý nghĩa của các tín hiệu nổ mìn phải được thông báo trước khi nổ cho chính quyền địa phương, mọi người của đơn vị và nhân dân ở trong vùng lân cận biết.
c) Chỉ sau khi được phép của người chỉ huy của đợt nổ, mọi người mới được trở lại vị trí bãi nổ.
4. Thi công bãi nổ mìn
a) Số lượng VLNCN được giao cho một thợ mìn phải thực hiện trong 01 ca/kíp phải đảm bảo vừa đủ để thợ mìn đó có điều kiện thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn.
b) Phải kiểm tra miệng lỗ khoan, chiều sâu lỗ khoan, thông suốt của lỗ khoan, lấy hết phôi khoan, đá tắc và bùn đất ra khỏi các lỗ khoan trước khi nạp mìn vào các lỗ khoan. Được sử dụng máy khoan để thông lỗ bị tắc khi đang thi công bãi mìn với điều kiện lỗ khoan phải thông cách các lỗ khoan đang nạp lớn hơn hoặc bằng chiều dài cần khoan và không được nhỏ hơn 15 m.
Chỉ được sử dụng ô tô, các phương tiện vận chuyển VLNCN, thiết bị di động sản xuất thuốc nổ công nghiệp sử dụng loại động cơ đốt trong có bộ phận thu, dập tàn lửa ống xả vào bãi mìn thi công để bốc, dỡ VLNCN và dụng cụ thi công nổ mìn trước lúc rải dây, lắp ráp mạng nổ.
c) Khi nạp mìn thủ công, cho phép thợ mìn sử dụng gậy nạp bằng gỗ hoặc bằng các vật liệu không phát ra tia lửa khi có va chạm. Không được thêm các kíp nổ ở dạng rời từng chiếc hoặc nguyên cả hộp vào trong lượng thuốc nổ trừ trường hợp tiêu hủy kíp nổ điện.
d) Khi đưa mìn mồi vào cột thuốc nổ nạp phải hướng đáy lõm của kíp về phần chiều dài cột thuốc.
đ) Không được sử dụng dây cháy chậm ngòi mìn, dây dẫn của kíp điện hoặc dây nổ của mìn mồi để thả mìn mồi xuống lỗ khoan có độ sâu lớn hơn 2,0 m.
Không được sử dụng dây cháy chậm của ngòi mìn để buộc vào mìn mồi hoặc để cho dây cháy chậm bị thắt nút hoặc gập lại trong khi nạp mìn.
e) Khi nổ mìn để phá than có sử dụng các lượng thuốc liên tục hoặc lượng thuốc phân đoạn nạp trong lỗ khoan có chiều dài lớn hơn 5,0 m và sử dụng bua nước, cho phép sử dụng 01 đoạn dây nổ đặt dọc theo phát mìn có chiều dài không lộ ra khỏi miệng lỗ khoan để làm phương tiện kích nổ bổ sung.
Khi nổ mìn tại các mỏ hầm lò có nguy hiểm về khí, bụi nổ, khí độc phải đo kiểm tra nồng độ khí CO2, khí mêtan, khí độc trước và sau khi nổ mìn. Người đo phải ghi kết quả đo khí và ký nhận vào sổ. Phải dừng việc nạp mìn, thực hiện các biện pháp làm giảm nồng độ khí CO2, khí mêtan, khí độc đối với trường hợp hàm lượng khí lớn hơn giới hạn cho phép; chỉ được tiến hành nạp mìn khi nồng độ các loại khí trên nhỏ hơn giới hạn cho phép.
g) Không được kéo, làm căng quá mức dây cháy chậm, dây nổ hoặc dây dẫn của kíp nổ điện, kíp nổ phi điện khi đã được đưa vào lỗ khoan. Không được cuộn thành vòng các đầu dây cháy chậm hoặc dây nổ từ lỗ mìn đi ra.
h) Không được chọc nén ép, ném quăng vật nút bua lên cột thuốc nổ đã nạp. Không được sử dụng vật liệu ở dạng cục hoặc vật liệu dễ cháy để nút bua các lỗ mìn.
k) Chỉ được nổ mìn không nút bua đối với nổ mìn lộ thiên và nổ mìn hầm lò không nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ tại vị trí đảm bảo khoảng cách an toàn theo quy định tại khoản 7 Điều 5 của Quy chuẩn này.
l) Khi thi công các vị trí trên sườn tầng có độ dốc lớn hơn 450 và độ cao lớn hơn 2,0 m so với chân tầng ở chỗ cheo leo hoặc gần mép tầng phải thực hiện các biện pháp an toàn lao động theo quy định. Khi nổ các phát mìn lỗ khoan nhỏ và mìn ốp để phá đá quá cỡ trên mặt đống đá nổ mìn, việc nạp mìn, lắp ráp mạng lưới nổ mìn, châm mìn (nếu nổ đốt) chỉ được tiến hành theo thứ tự từ trên xuống dưới.
5. Nổ mìn phân đoạn phải đảm bảo kích nổ toàn bộ lượng thuốc nổ được phân đoạn. Mỗi đoạn thuốc nổ có không nhỏ hơn 01 tâm khởi nổ, trường hợp sử dụng dây nổ thì lượng thuốc phân đoạn nhạy nổ với dây nổ phải được áp sát với dây nổ, trường hợp chỉ sử dụng thuốc nổ thì khoảng cách phân đoạn giữa các lượng thuốc phân đoạn không được lớn hơn khoảng cách truyền nổ của loại thuốc nổ đó.
6. Khi thấy có dông, sấm chớp đang ập tới, phải dừng hoàn toàn công tác nạp, nổ mìn ở trên mặt đất, giếng đứng và các hầm, lò đã đào với chiều dài nhỏ hơn 50 m từ mặt bằng và yêu cầu mọi người phải rút ra ngoài giới hạn vùng nguy hiểm. Cho phép khởi nổ khi đã thực hiện đầy đủ các quy định an toàn cho việc khởi nổ hoặc phải nhanh chóng nối ngắn mạch (đấu chập) dây kíp điện hoặc đường dây dẫn của mạng nổ mìn đối với trường hợp nổ mìn điện.
7. Chỉ được thi công nổ mìn tại khu vực đảm bảo đủ ánh sáng. Đối với nổ mìn lộ thiên, khi phải chiếu sáng để phục vụ thi công nổ mìn thì khoảng cách từ vị trí đặt nguồn sáng đến vị trí phát mìn gần nhất của bãi nổ không nhỏ hơn 15 m, khi trời có sương mù dày đặc phải áp dụng các biện pháp bổ sung để đảm bảo an toàn (tăng cường thêm trạm gác bảo vệ, tăng cường thông tin liên lạc, thông báo trên loa truyền thanh).
8. Sau khi nổ mìn, phải có biện pháp xử lý đối với trường hợp có tảng đá treo, hàm ếch có nguy cơ gây nguy hiểm cho người và thiết bị. Trường hợp không có khả năng giải quyết nhanh phải đặt biển báo cấm người, thiết bị vào phạm vi nguy hiểm.
9. Xử lý mìn câm
a) Khi phát hiện có mìn câm, phải lập tức cắm biển báo có mìn câm ở bên cạnh phát mìn bị câm đối với nổ mìn lộ thiên hoặc ngừng ngay công việc ở gương hầm lò đối với nổ mìn trong hầm lò. Phải báo cho người chỉ huy nổ mìn hoặc cán bộ được giao trực tiếp phụ trách khu vực sản xuất biết để quyết định biện pháp xử lý mìn câm.
Việc xử lý mìn câm phải tiến hành theo sự hướng dẫn của người chỉ huy nổ mìn và không được thực hiện bất cứ công việc gì không liên quan đến xử lý mìn câm. Trường hợp không thể kết thúc xử lý mìn câm trong ca/kíp, phải bàn giao cho ca/kíp tiếp theo xử lý. Phải lập "Sổ xử lý mìn câm” để ghi lại các phát mìn câm, biện pháp xử lý và thời gian xử lý theo quy định tại Phụ lục 14 của Quy chuẩn này.
b) Khi nổ mìn điện bị câm, trường hợp tìm được hai đầu dây điện trong phát mìn lộ ra ngoài, phải lập tức đấu chập hai đầu dây.
c) Không được giật dây dẫn phát lộ, khoan tiếp vào đáy các lỗ mìn của loạt nổ trước.
d) Để xử lý các phát mìn ốp bị câm, cho phép sử dụng tay bóc lớp đất phủ trên phát mìn, đặt vào phát mìn bị câm 01 ngòi mìn hoặc một thỏi mìn mồi mới, lấp lại đất phủ mặt và khởi nổ.
đ) Được xử lý các phát mìn câm trong lỗ khoan nhỏ bằng cách cho nổ các phát mìn trong lỗ khoan phụ được khoan song song và cách lỗ mìn bị câm không nhỏ hơn 30 cm. Khi nổ mìn tạo túi của lỗ khoan nhỏ, khoảng cách lỗ khoan phụ đến vị trí lỗ mìn bị câm không nhỏ hơn 50 cm. Chiều sâu các lỗ khoan phụ không nhỏ hơn chiều sâu của lỗ mìn câm.
Số lượng, vị trí và chiều sâu các lỗ khoan phụ do chỉ huy nổ mìn xác định. Hướng của lỗ khoan phụ xác định bằng cách moi lấy vật liệu bua lỗ mìn câm một đoạn dài không lớn hơn 20 cm kể từ miệng lỗ.
Trong các mỏ hầm, lò có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ, khi thấy bề mặt gương nổ không có xáo trộn như ở những lỗ mìn đã nổ, đường cản nhỏ nhất của phát mìn không bị giảm và dây dẫn kíp điện ở vị trí phát mìn câm lộ ra ngoài. Cho phép thợ mìn đứng tại vị trí an toàn, sử dụng dụng cụ đo điện trở kíp chuyên dùng để kiểm tra sự kín mạch của kíp nổ điện phát lộ ở lỗ mìn câm, được khởi nổ đối với trường hợp kín mạch (kíp chưa được nổ).
Tại các mỏ quặng không có nguy hiểm về khí hoặc bụi nổ và mỏ lộ thiên nổ mìn không nút bua, cho phép nổ các phát mìn bị câm bằng cách đưa mìn mồi tiếp xúc trực tiếp với thuốc nổ để khởi nổ.
e) Khi sử dụng súng bắn nước để khai thác than, quặng, cho phép thủ tiêu phát mìn trong lỗ khoan nhỏ bị câm bằng luồng nước của súng bắn nước dưới sự giám sát của cán bộ an toàn và thợ mìn. Trong lúc thủ tiêu mìn câm không được có người ở trong gương, người điều khiển súng bắn nước phải ở vị trí an toàn. Trong quá trình phun nước phải theo dõi phát hiện và thu hồi kíp nổ điện trong phát mìn câm trôi ra.
g) Được xử lý mìn câm trong lỗ khoan lớn bằng các cách sau:
- Cho khởi nổ lại phát mìn câm đối với trường hợp nguyên nhân gây câm là do mạng nổ trên mặt đất bị hỏng với điều kiện trị số đường cản nhỏ nhất của phát mìn câm không bị giảm do tác dụng nổ phá của phát mìn bên cạnh;
- Khi áp dụng phương pháp nổ không có kíp và thuốc nổ là loại chứa Amoni Nitrat, cho phép sử dụng máy xúc để xúc đất đá ở cạnh phát mìn câm;
- Cho nổ một phát mìn trong lỗ khoan lớn được khoan song song và cách lỗ mìn câm không gần hơn 08 lần đường kính lỗ khoan. Vị trí lỗ khoan do người chỉ huy nổ mìn xác định;
- Cho phép xúc dọn đất đá bằng thủ công tại chỗ có lỗ mìn câm để làm lộ đầu phát mìn câm ra. Khi không thể xúc đất đá bằng thủ công, cho phép khoan và nổ các lỗ mìn có đường kính nhỏ được bố trí cách trục tâm của lỗ mìn câm một khoảng cách lớn hơn 1,0 m. Số lỗ, hướng, chiều sâu của các lỗ khoan do người chỉ huy nổ mìn quyết định.
h) Nổ mìn phá đá hoặc công trình dưới nước:
- Cho khởi nổ lại mạng nổ sau khi chỉnh sửa lỗi hoặc phát mìn bị câm đối với trường hợp nguyên nhân gây câm là do mạng nổ;
- Các phát mìn ốp vào đá, bề mặt công trình bị câm, cho phép thợ mìn thay kíp nổ khác hoặc đặt lại dây nổ vào phần thuốc nổ của phát mìn bị câm để khởi nổ lại;
- Mìn câm trong lỗ khoan nhỏ được phép thực hiện bằng cách cho nổ các phát mìn trong lỗ khoan phụ được khoan song song và cách lỗ mìn bị câm không nhỏ hơn hơn 60 cm;
- Mìn câm trong lỗ khoan lớn cho phép thực hiện bằng cách nổ các phát mìn trong lỗ khoan phụ có đường kính tương đương được khoan song song và cách lỗ mìn câm không gần hơn 15 lần đường kính lỗ khoan bị câm.
k) Khi phát hiện mìn câm trong những trường hợp nổ mìn khác, chỉ huy nổ mìn của đợt nổ quyết định xử lý theo từng điều kiện cụ thể.
l) Sau khi nổ phát mìn để thủ tiêu mìn câm, thợ mìn phải kiểm tra để thu gom VLNCN của phát mìn câm bị tung ra.