vanban.org

Điều 103. Hoạt động của mỏ gần khu vực có đối tượng chứa nước — Thông tư 31/2017/TT-BCT

Bộ Công Thương Ban hành 28/12/2017 Hiệu lực 01/07/2018 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 8 năm
Thông tư số 31/2017/TT-BCT Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ quặng hầm lò. · 31/2017/TT-BCT
05/02/202042/2019/TT-BCTSửa đổi Hiện hành 01/07/2018Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 31/2017/TT-BCT › Chương VII › Mục 2 › Điều 103
Đọc toàn văn

Điều 103. Hoạt động của mỏ gần khu vực có đối tượng chứa nước

1. Chỉ được phép khai thác dưới khu vực có các đối tượng chứa nước khi khoảng cách giữa các vỉa, thân quặng theo đường vuông góc tối thiểu bằng 20 lần tổng chiều cao khai thác của các thân quặng.

2. Chỉ được phép khai thác vỉa, thân quặng trên nhưng nằm dưới mức các lò ngập nước của vỉa, thân quặng dưới khi khoảng cách giữa các vỉa, thân quặng theo đường vuông góc tối thiểu bằng 20 lần chiều cao khai thác của vỉa, thân quặng dưới.

3. Chỉ được phép đào các đường lò chuẩn bị trong quặng hoặc trong đá bằng khoan nổ mìn dưới khu vực có các đối tượng chứa nước của vỉa, thân quặng trên hoặc vỉa, thân quặng dưới khi khoảng cách từ đường lò đang đào đến đối tượng chứa nước theo đường vuông góc tối thiểu bằng 10 lần chiều cao đường lò đào.

4. Khi giữa hai vỉa, thân quặng có lỗ khoan thăm dò địa chất hoặc phay phá kiến tạo, phải để lại trụ chắn nước theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 102 Quy chuẩn này.

5. Ranh giới an toàn khai thác các vỉa, thân quặng trên hoặc dưới khu vực có lò ngập nước thực hiện theo Phụ lục VIII của Quy chuẩn này.

6. Không phụ thuộc trong hay ngoài biên giới khai trường mỏ, các công tác của mỏ tiến hành ở khoảng cách đến khu vực ngập nước nhỏ hơn 200m đều phải thực hiện theo phương án được đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt, trong đó phải có các biện pháp ngăn ngừa bục nước và khí độc vào các đường lò đang hoạt động.

7. Quy định về ranh giới hoạt động công tác của mỏ gần khu vực có đối tượng chứa nước.

a) Ranh giới nguy hiểm gần khu vực ngập nước phải được đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt trước khi duyệt kế hoạch sản xuất hàng năm của mỏ.

b) Ranh giới khu vực nguy hiểm đối với rốn giếng bị ngập nước, các hầm chứa nước, các điểm tụ nước khác có thể tích nhỏ hơn 200m3 và áp suất nước nhỏ hơn 0,1 MPa cũng như ở nơi có phay phá cắt qua các đối tượng chứa nước do Giám đốc điều hành mỏ phê duyệt.

c) Ranh giới khu vực nguy hiểm đối với các đối tượng chứa nước khác có thể tích lớn hơn 200m3 và áp suất nước lớn hơn 0,1 MPa do Đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt.

d) Thiết kế đào lò, khai thác trong ranh giới nguy hiểm gần khu vực có các đối tượng chứa nước phải được Đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt.

8. Đối với các vỉa, thân quặng nằm dưới hoặc nằm trên khu vực ngập nước, nguy cơ bục nước chính là khu vực để lại trụ chắn nước.

9. Phải để lại các trụ ngăn cách giữa các mỏ khi đồng thời khai thác các vỉa, thân quặng ở các mỏ liền kề nhau. Kích thước trụ ngăn cách được xác định theo Phụ lục VIII của Quy chuẩn này. Chỉ được khai thác toàn bộ hoặc từng phần các trụ ngăn cách giữa các mỏ và các trụ bảo vệ khác trong khu vực ngập nước sau khi đã tháo nước tại các đối tượng chứa nước.

10. Chỉ được khai thác gần khu vực các đối tượng chứa nước không có đường biên rõ ràng sau khi đã xác định được khu vực dự định khai thác bằng các lò chuẩn bị hay bằng các lỗ khoan. Trường hợp không thể xác định được khu vực dự định khai thác theo cách trên phải thường xuyên khoan các lỗ khoan vượt trước về phía khu vực ngập nước với chiều sâu lỗ khoan tối thiểu bằng chiều rộng trụ chắn nước.

11. Việc đào các đường lò chuẩn bị trong ranh giới khu vực trụ chắn nước giữa các mỏ khai thác toàn bộ hoặc từng phần các trụ đó chỉ được phép theo thiết kế do các đơn vị quản lý khai thác mỏ của các mỏ thống nhất, phê duyệt.

12. Khi đào các lò chuẩn bị trong quặng hoặc trong đá để thoát nước ở khu vực giữa ranh giới an toàn khai thác mỏ và các đối tượng chứa nước, phải tuân thủ các điều kiện sau:

a) Đào gương hẹp với hệ thống lỗ khoan vượt trước ở gương và hông lò với chiều dài không nhỏ hơn chiều rộng trụ chắn nước để kiểm tra; đường kính lỗ khoan vượt trước tối đa là 76mm; miệng lỗ khoan phải được chống ống bảo vệ và có van điều chỉnh áp lực và lưu lượng nước. Sau khi lắp đặt xong, các van và các bộ phận giảm áp phải được thử nghiệm dưới áp lực gấp 1,5 lần áp lực quy định trong thiết kế.

b) Đối với những đường lò đào có gốc dốc ≥ 25° cần phải đào hai đường lò song song với nhau được nối với nhau bằng các đường lò nối, khoảng cách giữa các đường lò nối không lớn hơn 0,7 lần chiều dài của lỗ khoan thăm dò.

13. Việc tháo nước từ mức trên vào hệ thống thoát nước của các đường lò đang hoạt động phải được thực hiện theo phương án được Đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt.

14. Khi tiến hành các công tác mỏ gần khu vực bán kính tính toán nguy hiểm bục nước đã được xác định bằng các lỗ khoan thăm dò, Phụ trách công tác trắc địa mỏ phải báo cáo bằng văn bản cho Giám đốc điều hành mỏ và Phụ trách sản xuất tại hiện trường khu vực đó.

15. Phải để lại trụ chắn nước cho các vỉa, thân quặng có lỗ khoan địa chất thăm dò cắt qua cũng như ở các vỉa, thân quặng nằm cách đáy lỗ khoan theo hướng dẫn tại Phụ lục VIII của Quy chuẩn này.

16. Hàng tháng, Phụ trách công tác trắc địa mỏ phải cập nhật để đưa ranh giới khu vực nguy hiểm bục nước vào bản đồ cập nhật các đường lò.

17. Giám đốc điều hành mỏ/người được giao nhiệm vụ phải hướng dẫn bản thiết kế đã được duyệt về việc tiến hành các công tác mỏ trong khu vực nguy hiểm bục nước cho tất cả những người làm việc trong vùng đó và có trách nhiệm kiểm tra việc đảm bảo an toàn cho họ trong suốt quá trình thực hiện công việc, ghi vào sổ theo mẫu sổ 12.3 Phụ lục VII của Quy chuẩn này.

18. Khi gương lò đang tiến gần đến khu vực nguy hiểm bục nước mà xuất hiện các hiện tượng có thể bục nước (đọng giọt ở gương, nhỏ giọt tăng dần), lập tức phải đưa người ra khỏi gương đó và tất cả lò khác có nguy cơ ngập nước, sau đó báo cáo hiện tượng trên cho Phụ trách bộ phận sản xuất và Giám đốc điều hành mỏ để xử lý.

19. Việc bơm nước từ các lò ngập nước phải thực hiện theo biện pháp do Giám đốc điều hành mỏ duyệt. Đề phòng bục khí vào nơi có người và thiết bị điện, trước khi bơm nước bộ phận thông gió phải kiểm tra thành phần không khí ở trên mặt nước (khí CO, CO2, CH4, H2S và O2).

20. Phương án đánh ngập các lò do Đơn vị quản lý khai thác mỏ phê duyệt và chỉ được thực hiện trong những trường hợp khẩn cấp. Khi đánh ngập các đường lò cách biên giới kỹ thuật với mỏ liền kề dưới 200m, Giám đốc điều hành mỏ phải giao cho mỏ liền kề một bản phương án đánh ngập được duyệt và thông báo bằng văn bản cho mỏ liền kề biết không nhỏ hơn 2 ngày đêm trước khi thực hiện phương án đánh ngập.