Điều 102. Quy định chung
1. Để đề phòng bục nước vào mỏ hầm lò đang hoạt động, phải đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Trưởng bộ phận trắc địa và địa chất mỏ phải cập nhật vào bản đồ hiện trạng mỏ tất cả các lò ngập nước, các phay chứa nước, hồ ao, sông suối có liên quan và các đối tượng chứa nước khác cùng với vành đai nguy hiểm bục nước của nó.
b) Phải lập các biện pháp ngăn ngừa bục nước từ các hố sụt lún trên mặt đất vào hầm lò được Giám đốc điều hành mỏ phê duyệt. Các nội dung trong biện pháp ngăn ngừa bục nước được hướng dẫn tại Phụ lục VIII của Quy chuẩn này
c) Miệng giếng đứng, giếng nghiêng, lò nối, lò bằng và các lỗ khoan đường kính lớn phải được xây dựng sao cho nước mặt không chảy vào mỏ;
d) Tính toán xác định và cập nhật lên bản đồ công tác mỏ các trụ chắn nước bao quanh ngăn chặn khu vực có các đối tượng chứa nước theo công thức sau đây:
D = 5M + 0,05H + 0,002L; m
Trong đó:
D - Chiều rộng trụ chắn nước, m
M - Chiều cao khấu của vỉa, thân quặng, m
H - Khoảng cách thẳng đứng từ mặt đất đến trụ vỉa, thân quặng, m
L - Tổng chiều dài trắc địa đo đạc từ các giếng mỏ đến trụ chắn nước.
Chiều rộng trụ chắn nước sau khi tính toán phải đảm bảo tối thiểu là 20 mét. Đối với các vỉa, thân quặng có chiều dày lớn hơn 3,5m và góc dốc lớn hơn 30° không được để lại trụ chắn nước mà phải tiến hành tháo nước.
đ) Khi không thể xác định được chính xác vành đai nguy hiểm bục nước phải dừng tiến hành các công tác của mỏ cách đối tượng chứa nước hoặc nghi ngờ chứa nước tối thiểu là 100m.
2. Việc xác định vành đai nguy hiểm bục nước từ các đối tượng chứa nước cũng như tính toán các trụ chắn nước; công tác chuẩn bị đào lò; công tác khoan trong các vùng đó phải được Giám đốc điều hành mỏ phê duyệt trước khi thực hiện.