vanban.org

Điều 52. Yêu cầu đối với nhân viên cứu nạn, chữa cháy, hệ thống thông tin liên lạc và báo động, thời gian phản ứng, thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay, đường cứu nạn — Thông tư 16/2010/TT-BGTVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/03/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 15/12/2016 Thay thế: 17/2016/TT-BGTVT · 30/06/2016 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 53/2012/TT-BGTVT · 25/12/2012
Bộ Giao thông vận tải Ban hành 30/06/2010 Hiệu lực 14/08/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 16 năm
Thông tư số 16/2010/TT-BGTVT Quy định chi tiết về quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay · 16/2010/TT-BGTVT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 16/2010/TT-BGTVT › Chương VI › Điều 52
Đọc toàn văn

Điều 52. Yêu cầu đối với nhân viên cứu nạn, chữa cháy, hệ thống thông tin liên lạc và báo động, thời gian phản ứng, thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay, đường cứu nạn

1. Nhân viên cứu nạn, chữa cháy phải được huấn luyện tại cơ sở đào tạo, huấn luyện chuyên ngành, theo chương trình đào tạo, huấn luyện nhân viên cứu nạn, chữa cháy phù hợp; có chứng chỉ thích hợp; tham gia các cuộc diễn tập cứu nạn, chữa cháy tại cảng hàng không, sân bay. Chương trình huấn luyện nhân viên cứu nạn, chữa cháy phải bao gồm huấn luyện kỹ năng hành động của từng người và khả năng phối hợp trong đội;

2. Nhân viên cứu nạn, chữa cháy phải được huấn luyện, sẵn sàng điều khiển các xe cứu nạn, chữa cháy và khai thác thiết bị với công suất tối đa trong quá trình hoạt động chữa cháy; hành động với thời gian phản ứng ngắn nhất và duy trì xả các chất chữa cháy liên tục theo quy định, sử dụng thành thạo dây, thang và các thiết bị cứu nạn, chữa cháy khác gắn liền với hoạt động cứu nạn, chữa cháy cho tàu bay.

3. Người khai thác cảng hàng không, sân bay phải bố trí đủ số lượng nhân viên cứu hỏa phù hợp với cấp sân bay tương ứng; bố trí đầy đủ trang bị, thiết bị, dụng cụ, quần áo phòng cháy chữa cháy cho nhân viên cứu nạn, chữa cháy theo phương án phòng cháy chữa cháy của cảng hàng không, sân bay; bố trí các xe cứu nạn và chữa cháy trực đúng nơi quy định của phương án khẩn nguy sân bay; bố trí các trạm chữa cháy trung gian (trạm chữa cháy vệ tinh) để đảm bảo được thời gian phản ứng theo quy định.

4. Người khai thác cảng hàng không, sân bay phải có hệ thống thông tin liên lạc trực tiếp giữa một trạm chữa cháy với đài kiểm soát tại sân bay, với các trạm chữa cháy khác trên sân bay và với các xe cứu nạn, chữa cháy; có hệ thống báo động cho bộ máy nhân viên cứu nạn, chữa cháy tại trạm chữa cháy mà họ đang làm việc, tại mọi trạm chữa cháy khác trên sân bay và tại đài kiểm soát tại sân bay; đảm bảo truyền phát tin chắc chắn trong các trường hợp khẩn cấp cần thiết và thông tin hàng ngày cần có quy định về dùng điện thoại đặc biệt, thông tin vô tuyến hai chiều và các hệ thống báo động nói chung cho dịch vụ cứu nạn, chữa cháy. Tuỳ thuộc vào các yêu cầu cụ thể của từng cảng hàng không, sân bay, các phương tiện thông tin phục vụ cho các mục đích sau:

a) Thông tin trực tiếp giữa nhà khai thác và trạm chữa cháy sân bay để đảm bảo báo động kịp thời và điều hành xe cứu nạn và chữa cháy và nhân viên kịp thời khi tàu bay gặp tai nạn hoặc sự cố; các tín hiệu khẩn cấp dùng để triệu tập các nhân viên không trực ca;

b) Khi cần, tập hợp được các cơ sở chính liên quan đến dịch vụ trong hoặc ngoài sân bay;

c) Duy trì thông tin bằng bộ đàm hai chiều với các xe cứu nạn và chữa cháy tại hiện trường tàu bay gặp nạn hoặc sự cố.

5. Xe cứu thương và các phương tiện y tế để vận chuyển các trường hợp thương vong từ tàu bay bị nạn phải được chỉ đạo chung bởi người có thẩm quyền của người khai thác cảng hàng không, sân bay; được dự phòng trong kế hoạch cứu nạn với mọi trường hợp xử lý các tình huống khẩn nguy.

6. Thời gian phản ứng là thời gian giữa thời điểm báo động đầu tiên đến thời điểm khi chiếc xe đầu tiên ở tư thế xả bọt với tốc độ tối thiểu là 50% tốc độ xả. Thời gian phản ứng phải bảo đảm các quy định sau:

a) Các phương tiện cứu nạn và chữa cháy phải đảm bảo thời gian phản ứng không quá 2 phút để đi đến bất cứ điểm nào của các đường cất hạ cánh đang hoạt động, trong các điều kiện tối ưu về tầm nhìn và trạng thái mặt đường;

b) Các phương tiện cứu nạn và chữa cháy phải đảm bảo thời gian phản ứng không quá 3 phút đi đến bất cứ bộ phận nào của khu bay, trong các điều kiện tối ưu về tầm nhìn và trạng thái mặt đường; để đạt mục tiêu hoạt động trên đến mức cao nhất có thể được, trong các điều kiện tầm nhìn dưới mức tối ưu, cần có chỉ dẫn cho các xe cứu nạn và chữa cháy; điều kiện tối ưu về tầm nhìn và trạng thái mặt đường được xác định cho xe cộ đi bình thường ban ngày, tầm nhìn tốt, mặt đường sạch không bị nước mưa, bẩn, v.v;

c) Hệ thống các xe cứu nạn, chữa cháy phải được bảo dưỡng để đảm bảo thiết bị làm việc hiệu quả và phù hợp với thời gian được quy định trong suốt thời gian hoạt động của xe.

7. Thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Người khai thác cảng hàng không, sân bay phải trang bị thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay phù hợp với quy mô cảng hàng không, tần suất hoạt động của tàu bay và cấp bảo vệ sân bay;

b) Tất cả các cảng hàng không, sân bay phải được trang bị xe cứu hỏa, đáp ứng yêu cầu chữa cháy, khẩn nguy sân bay;

c) Sân bay phải thường trực sẵn các dịch vụ và thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay; bố trí trạm chữa cháy tại sân bay hoặc ngoài sân bay với điều kiện đáp ứng được yêu cầu về thời gian phản ứng theo quy định;

d) Khi sân bay ở gần khu vực có nước, đầm hồ hoặc ở môi trường khó khăn khác mà phần lớn các hoạt động tiếp cận hay cất cánh được tiến hành phía trên các khu vực đó, cần phải có thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay thích hợp.

8. Đường cứu nạn phải đáp ứng các yêu cầu sau:

a) Khi điều kiện đất đai cho phép, cảng hàng không, sân bay phải có đường cứu nạn để đảm bảo thời gian chữa cháy, khẩn nguy sân bay theo quy định; ưu tiên sử dụng đường, sân và các khu vực tiếp cận đến cách ngưỡng đường cất hạ cánh 1000 m hoặc ít nhất trong đường vành đai sân bay; nếu có hàng rào thì cần có lối ra các khu vực bên ngoài sân bay; các đường công vụ có thể dùng làm đường cứu nạn nếu chúng được xây dựng phù hợp;

b) Các đường cứu nạn phải chịu được tải trọng của các xe có tải trọng lớn nhất được phép hoạt động trên sân bay đi qua và dùng được trong mọi điều kiện thời tiết; các đường trong phạm vi 90 m của đường cất hạ cánh cần có lớp phủ bề mặt để chống xói mòn bề mặt và không làm bẩn đường cất hạ cánh; bảo đảm tĩnh không cho các xe lớn nhất;

c) Khi bề mặt đường cứu nạn không phân biệt được với các khu vực xung quanh hoặc khi bị bùn đất, cây cỏ che lấp thì phải đặt mốc cạnh đường cách nhau khoảng 10 m.

9. Ở các cảng hàng không, sân bay ở các vùng có địa hình đặc biệt, người khai thác cảng hàng không, sân bay phải trang bị các thiết bị chữa cháy, khẩn nguy sân bay phù hợp.