vanban.org

Điều 83. Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra, thử nghiệm, đánh giá, điều tra an ninh hàng không — Thông tư 14/2026/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 03/02/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2026
Bộ Công an Ban hành 03/02/2026 Hiệu lực 03/02/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · mốc là ngày hiệu lực
Thông tư 14/2026/TT-BCA Quy định chi tiết Chương trình an ninh hàng không và kiểm soát chất lượng an ninh hàng không Việt Nam · 14/2026/TT-BCA
01/07/2026115/2026/TT-BCAThay cụm từ Hiện hành 03/02/2026Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 14/2026/TT-BCA › Chương VII › Điều 83
Đọc toàn văn

Điều 83. Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra, thử nghiệm, đánh giá, điều tra an ninh hàng không

Thay cụm từ/đính chính bởi 115/2026/TT-BCA · hiệu lực 01/07/2026

1. Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Công an cửa khẩu thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an cấp tỉnh có cảng hàng không:

a) Có quyết định thành lập đoàn của người có thẩm quyền. Kế hoạch kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra phải được người ra quyết định thành lập đoàn phê duyệt;

b) Trưởng đoàn chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra và báo cáo kết quả thực hiện với người ra quyết định thành lập đoàn chậm nhất 10 ngày làm việc tính từ ngày kết thúc các hoạt động kiểm tra, thử nghiệm, điều tra;

c) Cục Quản lý xuất nhập cảnh tổ chức kiểm tra, đánh giá đối với đơn vị kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không, hãng hàng không, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hàng không được thực hiện tối thiểu một năm một lần; tổ chức thử nghiệm, đánh giá đối với đơn vị kiểm soát an ninh hàng không tại cảng hàng không được thực hiện tối thiểu một năm một lần; hãng hàng không Việt Nam tối thiểu hai năm một lần; trừ trường hợp đột xuất.

2. Yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra của đơn vị kiểm soát an ninh hàng không, hãng hàng không và các doanh nghiệp khác có chương trình an ninh hàng không:

a) Phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra được người đứng đầu đơn vị, tổ chức phê duyệt. Nội dung kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra có trọng tâm, trọng điểm và phù hợp với rủi ro an ninh hàng không;

b) Hoạt động đánh giá của các hãng hàng không Việt Nam tại các cảng hàng không nước ngoài do hãng hàng không chịu chi phí phải có sự tham gia của Cục Quản lý xuất nhập cảnh. Hoạt động đánh giá tại Việt Nam của nhà chức trách, hãng hàng không Việt Nam, hãng hàng không nước ngoài phải được Cục Quản lý xuất nhập cảnh cho phép, sau khi kết thúc đánh giá phải gửi kết quả về Cục Quản lý xuất nhập cảnh;

c) Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không thực hiện kiểm tra và thử nghiệm tối thiểu một quý một lần, trừ trường hợp đột xuất;

d) Doanh nghiệp có lực lượng kiểm soát an ninh hàng không khác thực hiện kiểm tra và thử nghiệm nội bộ tối thiểu một năm một lần, trừ trường hợp đột xuất.

3. Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không, hãng hàng không và các doanh nghiệp có chương trình an ninh hàng không có trách nhiệm báo cáo Cục Quản lý xuất nhập cảnh về kết quả thực hiện công tác kiểm soát chất lượng an ninh hàng không theo quy định tại Phụ lục XXIII ban hành kèm theo Thông tư này.

4. Hồ sơ, tài liệu hoạt động kiểm tra, đánh giá, thử nghiệm, điều tra an ninh hàng không phải được quản lý, lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.