Điều 43. Kiểm tra an ninh hàng không, lục soát an ninh hàng không đối với tàu bay
1. Kiểm tra an ninh hàng không đối với tàu bay
a) Đối với tàu bay đang khai thác, chuyến bay không có hành khách quá cảnh: trước khi tiếp nhận hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi lên tàu bay, người khai thác tàu bay phải kiểm tra an ninh hàng không tàu bay theo danh mục của từng loại tàu bay; sau khi kiểm tra, người khai thác tàu bay phải tổ chức giám sát, bảo vệ tàu bay liên tục cho đến khi cất cánh;
b) Đối với tàu bay đang khai thác, chuyến bay có hành khách quá cảnh: người khai thác tàu bay phải bảo đảm những hành khách xuống khỏi tàu bay (không bay quá cảnh) mang theo toàn bộ hành lý của họ, những hành khách bay quá cảnh phải được hãng hàng không yêu cầu xác định rõ hành lý của họ trước khi xuống tàu bay; trước khi tiếp nhận hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi lên tàu bay, người khai thác tàu bay phải kiểm tra an ninh hàng không tàu bay theo danh mục của từng loại tàu bay; sau khi kiểm tra, người khai thác tàu bay phải tổ chức giám sát, bảo vệ tàu bay liên tục cho đến khi cất cánh;
c) Đối với tàu bay đang khai thác chuyển về trạng thái không khai thác: trước khi đóng, niêm phong các cửa tàu bay, người khai thác tàu bay phải kiểm tra an ninh hàng không tàu bay theo danh mục của từng loại tàu bay; sau khi kiểm tra, người khai thác tàu bay phải tổ chức giám sát, bảo vệ tàu bay liên tục cho đến khi tàu bay chuyển về trạng thái bảo vệ đối với tàu bay không khai thác;
d) Đối với tàu bay không khai thác, khi đưa vào khai thác, trước khi tiếp nhận hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu gửi lên tàu bay, người khai thác tàu bay phải kiểm tra an ninh hàng không tàu bay theo danh mục của từng loại tàu bay nhằm phát hiện các vật phẩm nguy hiểm có thể được cất giấu hoặc người trốn trên tàu bay;
đ) Người được phân công kiểm tra an ninh hàng không tàu bay phải có hiểu biết về các khoang, danh mục kiểm tra của loại tàu bay cần kiểm tra; những người không có nhiệm vụ phải được yêu cầu rời khỏi tàu bay khi kiểm tra (trừ hành khách quá cảnh ở lại trên tàu bay); những người có nhiệm vụ, nhưng không phải người kiểm tra an ninh hàng không tàu bay không được cản trở hay tác động đến việc kiểm tra tàu bay;
e) Ngoài các quy định tại điểm a, b, c và d khoản này, người khai thác tàu bay thực hiện tái kiểm tra an ninh hàng không tàu bay khi rủi ro an ninh hàng không ở mức cần tái kiểm tra hoặc theo yêu cầu về tăng cường kiểm soát an ninh hàng không của cơ quan có thẩm quyền; thực hiện kiểm tra ngẫu nhiên túi đựng áo phao;
g) Trên mỗi tàu bay phải có danh mục kiểm tra an ninh hàng không tàu bay (dạng giấy hoặc dạng điện tử). Danh mục kiểm tra an ninh hàng không tàu bay tối thiểu gồm: Những nơi mà hành khách có thể tiếp cận trong khoang hành khách, buồng lái; những nơi mà hành khách có thể tiếp cận mà không cần dùng thiết bị kỹ thuật trong khoang hàng hoá, hành lý, các khoang kỹ thuật chứa các bảng điều khiển kỹ thuật tàu bay;
h) Người chỉ huy tàu bay phải được thông báo kết quả sau khi tàu bay được kiểm tra; tài liệu kiểm tra an ninh hàng không tàu bay phải được lưu giữ theo quy định của hãng hàng không nhưng tối thiểu không dưới 24 giờ sau khi tàu bay cất cánh;
i) Người khai thác tàu bay phải quy định chi tiết danh mục, quy trình, thủ tục kiểm tra an ninh hàng không tàu bay trong chương trình an ninh hàng không của hãng hàng không dựa trên rủi ro an ninh hàng không.
2. Lục soát an ninh hàng không đối với tàu bay:
a) Lục soát an ninh hàng không tàu bay do lực lượng kiểm soát an ninh hàng không thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, việc lục soát phải được tiến hành theo danh mục;
b) Hãng hàng không liên quan có trách nhiệm cử nhân viên thợ kỹ thuật tàu bay tham gia, tư vấn trong quá trình lục soát an ninh hàng không tàu bay. Trên mỗi tàu bay phải có danh mục lục soát an ninh hàng không tàu bay phù hợp theo quy định;
c) Việc lục soát an ninh hàng không tàu bay phải được quy định trong chương trình an ninh hàng không của hãng hàng không và đơn vị kiểm soát an ninh hàng không bảo đảm phù hợp theo quy định.