Điều 62. Trách nhiệm xử lý đối với vụ việc vi phạm an ninh hàng không
1. Lực lượng kiểm soát an ninh hàng không chịu trách nhiệm xử lý ban đầu các vụ việc vi phạm an ninh hàng không, trật tự công cộng xảy ra tại cảng hàng không thuộc quyền quản lý như sau:
a) Ngăn chặn hành vi vi phạm; tạm giữ đối tượng vi phạm;
b) Kiểm tra, lục soát, thu giữ tang vật, chứng cứ;
c) Đưa người, tang vật vi phạm về nơi quy định để giải quyết, xử lý vi phạm;
d) Báo cáo ngay cho chỉ huy đơn vị trực ca công tác, lập biên bản vi phạm theo mẫu quy định tại Phụ lục XVIII ban hành kèm theo Thông tư này;
đ) Bảo vệ hiện trường và trao đổi các cơ quan, đơn vị liên quan tại cảng hàng không nếu xét thấy cần thiết;
2. Các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với đơn vị kiểm soát an ninh hàng không trong quá trình xử lý các vụ việc vi phạm an ninh hàng không.
3. Đối với tàu bay đang khai thác, tàu bay đang bay, quy trình xử lý vi phạm thực hiện theo khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 37 của Thông tư này. Sĩ quan an ninh trên không hoạt động bí mật, không tham gia xử lý vụ việc vi phạm an ninh hàng không.
4. Lực lượng kiểm soát an ninh hàng không làm nhiệm vụ tại cơ sở nằm ngoài cảng hàng không chịu trách nhiệm xử lý ban đầu đối với vụ việc vi phạm an ninh hàng không xảy ra tại cơ sở do mình quản lý; quy trình xử lý theo quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều này; lập hồ sơ ban đầu (biên bản vi phạm theo mẫu quy định tại Phụ lục XVIII ban hành kèm theo Thông tư này), bàn giao hồ sơ, bằng chứng, tang vật, người vi phạm cho cơ quan chức năng tại địa phương và phối hợp xử lý tiếp theo đối với các vụ việc vi phạm an ninh hàng không.
5. Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không có trách nhiệm cử người trực tiếp đến ngay địa điểm đang giải quyết vi phạm khi nhận được thông báo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này để giám sát việc xử lý ban đầu, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, thẩm quyền giải quyết vụ việc và quyết định việc xử lý tiếp theo như sau:
a) Trường hợp vi phạm xét thấy chưa tới mức xử phạt hành chính thì tiếp nhận vụ việc và có văn bản yêu cầu cơ quan có người vi phạm xem xét, xử lý kỷ luật đối với người vi phạm và thông báo kết quả xử lý cho đơn vị kiểm soát an ninh hàng không;
b) Trường hợp vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của đơn vị kiểm soát an ninh hàng không thì tiến hành các công việc cần thiết để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định;
c) Trường hợp vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Công an cấp tỉnh thì đơn vị kiểm soát an ninh hàng không bàn giao để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định;
d) Trường hợp vi phạm có dấu hiệu hình sự thì đơn vị kiểm soát an ninh hàng không bàn giao cho cơ quan công an có thẩm quyền;
đ) Trường hợp vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thì đơn vị kiểm soát an ninh hàng không bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý;
e) Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan thì thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
6. Khi bàn giao vụ việc cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, đơn vị kiểm soát an ninh hàng không lập biên bản bàn giao theo mẫu quy định tại Phụ lục XVIII ban hành kèm theo Thông tư này và phối hợp thực hiện các biện pháp dẫn giải, giữ người, phương tiện, tang vật vi phạm khi được yêu cầu.
7. Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không, các doanh nghiệp có lực lượng kiểm soát an ninh hàng không nội bộ phải trang bị máy ghi hình, máy ghi âm, máy ảnh, ống nhòm và các thiết bị hỗ trợ phù hợp khác để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm và ghi nhận, thu thập toàn bộ diễn biến của vụ việc vi phạm một cách chính xác, đầy đủ, phục vụ cho việc xử lý được nhanh chóng, đúng người, đúng tính chất, mức độ vi phạm và đúng quy định của pháp luật hiện hành.
8. Đơn vị kiểm soát an ninh hàng không, đơn vị kiểm soát an ninh hàng không nội bộ của hãng hàng không, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không lưu, doanh nghiệp bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay và các doanh nghiệp khác hoạt động tại cảng hàng không phải trang bị máy điện thoại có chức năng hiển thị, lưu số gọi đến, gọi đi và ghi âm với thời gian tối thiểu 03 giờ đồng hồ cho các số điện thoại trực ban, trực khẩn nguy, đường dây nóng, giải đáp thông tin cho hành khách. Các đơn vị phải sử dụng dịch vụ thông báo nhanh số máy gọi đi, gọi đến các số máy điện thoại của đơn vị để kịp thời tra cứu khi nhận được thông tin đe dọa qua điện thoại; thiết lập hòm thư tiếp nhận các thông tin về các vụ việc vi phạm, các hành vi can thiệp bất hợp pháp.